Trang chủ > HỒI KÝ, Lịch sử, Tội Ác > Biến động Miền Trung 07

Biến động Miền Trung 07

Nguồn: Chinhnghia.com

 Biến Động Miền Trung

Tác Giả: Liên Thành

Phần 7

 (trang 123-142)

Trở lại vụ thảm sát Mậu Thân 1968, tại Quận I
(Quận Thành Nội)

Cơ quan tình báo chúng tôi không ghi nhận có một toà án Nhân dân nào của”Chính quyền Cách Mạng Quận I” được thành lập tại quận này. Tuy nhiên những vụ bắt bớ hành quyết đồng bào Quận I cũng không thua gì Quận II.
Chỉ huy các đội Tự Vệ khu phố ngoài Tống Hoàng Nguyên, Nguyễn Đắc Xuân còn có Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Hữu Vấn Chủ tịch chính quyền Cách Mạng Quận I, Hoàng văn Giàu. Sắt máu và tàn bạo nhất là nữ sinh Nguyễn Thị Đoan Trinh, con gái của Nguyễn Đoá.
Đã có nhiều nhân chứng thấy rõ những vụ xử bắn cùng khắp Quận I, ngoài trừ khu vực hồ Tịnh Tâm, Đường Nguyễn Hiệu, xóm Cầu Kho là vòng đai phòng thủ chặt chẽ của BTL/Sư đoàn I BB.
Điển hình là tại ngã tư Mai Thúc Loan và Nguyễn Thành, nhiều nhân chứng đã nhận diện được Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, cùng với một toán Việt cộïng dẫn đi 6 nạn nhân lên thượng thành gần cửa Đông Ba, tất cả 6 nạn nhân đều bị trói tay sắp hàng ngang sát bờ thành, và chính Tôn Thất Dương Tiềm ra lệnh cho toán Việt cộng nổ súng bắn chết 6 nạn nhân này.
Một vụ xử bắn khác mà nay nhắc lại mọi người vẫn còn kinh tởm, đó là vụ Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thiết, Nguyễn thị Đoan Trinh xử bắn Trần Mậu Tý và chồng bà Nội tại cửa Đông Ba, Quận I, sáng ngày mồng 2 Tết .
Còn nhớ vào cuộc tranh đấu 1966, Trần Mậu Tý là ĐĐT/ĐĐ2 sinh viên quyết tử của Nguyễn Đắc Xuân. Xuân và Tý tình như anh em. Cuộc tranh đấu 1966 thất bại, Xuân vào trốn tại chùa Tường Vân, dưới sự che chở của Thích Chánh Trực và Trần Mậu Tý thường xuyên giúp đỡ Xuân trong những ngày trốn chạy .
Đến tháng 7-1966, giao liên của cơ quan thành ủy phái đến chùa Tường Vân đưa Xuân lên mật khu, còn có Trần Mậu Tý tháp tùng, vậy mà sáng mồng 2 Tết, Tý bị lực lượng an ninh của Xuân bắt, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thiết và Nguyễn thị Đoan Trinh đem Tý ra xử bắn, chỉ vì nghi ngờ Trần Mậu Tý là đảng viên của đảng Đại Việt Cách Mạng. Ba loạt đạn AK bắn vào Tý cùng với chồng bà Nội, Tý gục ngã ngay tại cửa Đông Ba .
Ngoài ra rất nhiều vụ tàn sát ngay tại tư gia, cũng như tại các vùng Tây Lộc, Hòa Bình, khu Toà án, vùng miếu Âm Hồn, dọc dường Đinh Bộ Lĩnh, xác người nằm la liệt, thủ phạm là đám Đội tự vệ khu phố và nhất là tên nữ sát nhân, nữ sát thủ Nguyễn thị Đoan Trinh, y thị cỡi xe Honda, vai mang AK, bất kỳ ai y thị chận hỏi, nếu trả lời là lính, là Cảnh Sát, cán bộ chính quyền, không cần một câu trả lời thứ hai, y thị nổ súng bắn chết ngay.
Một điều lạ lùng, trời thật không có mắt, hiện nay thời điểm năm 2008, Nguyễn Thị Đoan Trinh là một nữ thương gia giàu có tại Sàigòn.

Tình hình chiến sự tại ba quận Thị xã Huế.

6 giờ sáng ngày mồng 2 Tết, tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy Dù, từ Siïa và từ cây số 17, An Lỗ về giải vây, cứu Huế.
– Trong đêm mồng 2, TĐ7 ND đánh cận chiến với cộng quân, chọc thủng phòng tuyến chiếm lại cửa An Hoà.
– Ngày 2/2/68, Tiểu đoàn 2 ND, nương theo cửa An Hòa vừa được khai thông, đánh chiếm cửa Bắc và phi trường Tây Lộc.
– Trưa mồng 3 Tết, hai tiểu đoàn 2 và 7 ND mới giải tỏa xong từ cửa An Hòa đến cửa Tây và cửa Bắc Thành Nội Huế. Bàn giao khu vực lại cho Sư đoàn I BB.
– Trưa mồng 4 Tết, ngày 3/2/68, Tiểu đoàn 9 ND trực thăng vận nhảy xuống BTL/Sư đoàn I BB, tại Mang Cá Thành nội Huế. Từ Mang Cá Tiểu đoàn 9 ND xuất phát tiến về phi trường Tây Lộc và cửa Chính Tây, bắt tay với Tiểu đoàn 2 ND.
Tại cửa Chính Tây, quân Việt cộng chiếm bờ thành cao, lực lượng Dù phải đợi trời tối leo lên tường cao dùng lưởi lê đánh cận chiến với địch. Sau hai ngày giao tranh lực lượng Dù mới kiểm soát toàn bộ cửa Chánh Tây.
– Ngày 5/2/68, tại cửa Đông Ba, Việt cộng đặt thượng liên trên cửa thành, Tiểu đoàn 2 Dù xung phong chiếm mục tiêu nhưng vô hiệu, BCH/Chiến đoàn Dù điều động pháo đội C bắn trực xạ, dập tắt khẩu thượng liên của địch, binh sĩ Tiểu đoàn 2 ND vừa bắn vừa xung phong chiếm lại cửa Đông Ba.
– Ngày 8/2/1968 Tiểu Đoàn 9 ND tiếp tục vượt qua hồ Tịnh Tâm, tái chiếm cửa Thượng Tứ.
Trận ác chiến giữa Lực lượng nhảy dù VNCH và hai Trung đoàn của Việt côïng trong nội thành và các cửa thành kéo dài 9 ngày đêm.
– Quân lực Hoa kỳ nhảy vào trận chiến Huế ngày 7/2/1968. Lực lượng đầu tiên tham chiến là hai Đại đội của Chiến đoàn RAY của TQLC Hoa kỳ. Họ chỉ giải tỏa một phần rất nhỏ vùng Quận 3 (Hữu Ngạn) nơi có BCH/MAC-V trú đóng.
Cũng nhờ vậy mà Trung Tá Phan văn Khoa, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Thừa Thiên mới thoát được từ bệnh viện Trung ương Huế về BCH/Tiểu Khu.
Ngày 8/2/68, 7 giờ sáng Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu, qua hệ thống truyền tin, gọi tôi trình diện Trung Tá Tỉnh trưởng, Tiểu Khu Trưởng. Tôi vừa ngạc nhiên vừa phân vân không biết chuyện gì, hỏi người bạn Trung úy Trung Tâm Trưởng Hành Quân anh ta cũng chẳng biết chỉ nói:
– Trung úy sang TTHQ gặp Trung Tá gấp, ông đang đợi Trung úy
Vừa gặp Trung Tá Tỉnh trưởng ông nói ngay:
– Liên Thành, em đảm nhiệm chức vụ Quận Trưởng Quận III kể từ giờ này, nhiệm vụ chính là hành quân phối hợp với TQLC Mỹ trong vùng Quận III, truy bắt hết đám cơ sở Việt côïng, tìm kiếm dân chúng còn trú ẩn tại nhà, bảo vệ, và đưa họ về tạm trú tại trường Trung Học Kiểu Mẫu. Lực lượng Cảnh sát có được bao nhiêu?
– Trình Trung tá 200 CSDC, khoảng 300 CSĐB tại hàng.
– Tiểu khu sẽ tăng cường cho em 1 Đại đội Địa Phương Quân, liên lạc TT/HQ và Thiếu tá Tố Tham mưu trưởng nhận lệnh Hành Quân.
Trung tá Tỉnh trưởng ra lệnh một tràng dài không để cho tôi hỏi một câu nào, tôi dành cắt ngang:
– Trình Trung Tá vậy CSĐB của Ty Cảnh Sát giao lại cho ai?
– Kiêm luôn .
Trong mấy ngày liên tục, chúng tôi phối hợp cùng TQLC Hoa kỳ, thật là nản lòng, lính Mỹ hành quân theo lối đi xem hoa, ngắm cảnh. Sáng sớm càfé thuốc lá xong, tà tà xuất quân từ MAC-V, lục soát lên vùng bệnh viện Huế, rẽ trái qua ngã sáu Lê Thánh Tôn, Lý Thường Kiệt, bắn tạch tạch, đùng đùng vài ba phát, chiều rút quân về lại MAC-V nghỉ ngơi.
Có lẽ chuyện mua bán giữa Tổng Thống Mỹ, Quốc Hội Hoa Kỳ với ông Hồ cùng Chính trị Bộ đảng Cọâng sản Việt Nam chưa xong, nên lính Mỹ mới đánh giặc kiểu ”trời ơi đất hỡi” như vậy.
Chúng tôi nôn nóng, vì đã bảy tám ngày thành phố không có điện, không có nước, dân chúng bị kẹt tại nhà lấy gì uống, lấy gì ăn, đó là chưa kể còn có rất nhiều đồng bào bị thương vì súng đạn của Việt cộâng, họ cần phải được cứu giúp ngay, chỉ cần lực lượng Hoa Kỳ giải tỏa vùng nào, chúng tôi sẽ nhào đến di tản đồng bào ra khỏi vùng lửa đạn, đưa họ về trại tạm cư. Thế nhưng đã hai ngày rồi, tính từ ngày mồng 7 Tết, lực lượng Hoa Kỳ vẫn chơi trò đi dạo mát.
Trung tâm HQ/ Tiểu khu gọi tôi:
– Thẩm quyền lớn muốn biết đám mắt xanh đã “lia” được vùng nào rồi, ông đã đã gặp được số đồng bào nào kẹt trong vùng chưa? đưa họ về gấp trường Kiểu Mẫu.
– “Lia” cái đầu tui ! Tụi nó đi một đoạn rồi dừng lại bố trí ngồi hút thuốc, chẳng đánh đấm gì cả. Việt cộng trong vùng còn rất ít, chỉ bắn lẻ tẻ mà thôi.
Thiếu Tá Nguyễn Văn Tố, Tham mưu trưởng Tiểu Khu đã lớn tiếng phản đối với viên Đại Tá Mỹ Cố vấn trưởng, và ngày hôm sau ông tung lực lượng cơ hữu của Tiểu khu, cộïng hai đại đội của Thiếu tá Nguyễn Văn Tăng, Quận Trưởng Hương Thủy tăng cường, tôi chỉ huy khoảng 300 CSDC và CSĐB theo sau lực lượng Tiểu Khu.
Lực lượng Tiểu Khu đã giải toả một vùng dài từ bệnh viện Huế lên Toà Đại Biểu rẽ trái về đến vùng An Cựu.
Khu vực dòng Chúa Cứu Thế, An Cựu, cầu số Bảy, dân chúng bị kẹt tại nhà rất đông, tôi dùng loa phóng thanh kêu gọi đồng bào:
– Tôi là Trung úy Liên Thành Phó trưởng Ty CSĐB, Quận Trưởng Quận III, Quân đội và Cảnh Sát đã giải tỏa vùng này, yêu cầu đồng bào rời nhà, di chuyển ra đường lớn, chúng tôi sẽ đón và đưa đồng bào về trường Kiểu Mẫu tạm trú, an toàn hơn.
Trong khi lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt đang âm thầm truy bắt những cơ sở Việt cộïng nằm vùng, mà mấy ngày trước đây đã bắt đi hơn 300 đồng bào tại dòng Chúa Cứu Thế, thì lực lượng Tiểu Khu yểm trợ cho CSDC di tản đồng bào, dọc đường Duy Tân băng qua cánh đồng An Cựu về trại tạm cư ở trường Trung học Kiểu Mẫu. Tổng cộng có khoảng gần bốn trăm đồng bào, đã được giải thoát và đưa về trại tạm cư.
Những ai đã chứng kiến cảnh đồng bào chạy giặc băng qua cánh đồng An Cựu trong cơn mưa phùn gió bấc của những ngày Mậu Thân, cho dù lòng dạ có cứng rắn đến đâu cũng không khỏi chảy đôi giòng lệ xót thương. Đồng bào chạy trong làn mưa bụi và gió lạnh cắt da, họ phờ phạc, đói khát, hoảng sợ, mẹ ôm con, bà ôm cháu, con cõng cha già chạy lúc thúc. Lính và Cảnh Sát dẫn họ chạy để thoát khỏi vòng lửa đạn, họ không khóc, không la, im lặng âm thầm, câm nín, chiu đựng tột cùng của khổ nạn, cố gắng vượt qua cánh đồng An Cựu, chỉ dài khoảng hơn cây số là đến nơi an toàn, trường Kiểu Mẫu, mà xem chừng như xa vạn dặm.
Trở lại với toán Đặc nhiệm CSĐB đang truy lùng đám Cộng sản nằm vùng và những tên An ninh Thành của Bảy Lanh, đã từng bắt 300 đồng bào tại nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế, và đã tàn sát quá nhiều đồng bào, anh em quân đội, Cảnh sát, cán bộ chính quyền, mà bọn chúng đã bắt được.
Trưởng Toán Đặc nhiệm là anh Nguyễn Bá Sơn, sau hai giờ lục soát đã gọi tôi:
– Chúng tôi đã bắt được 6 tên, bọn chúng khai là An ninh thành của Bảy Lanh, và hai cha con Thiên Tường, thằng con thứ 3 của Thiên Tường chúng tôi không tìm ra, không biết hắn trốn ở đâu.
– Anh em có bị thiệt hại gì không?
– Bị bọn này bắn, mình 3 anh em bị thương, một rất nặng, cần tải thương gấp.
– Tôi nhận rõ, sẽ cho xe đến chở ngay.
– Trình thẩm quyền 6 tên kia và hai cha con Thiên Tường thì sao? Đưa về Trung Tâm Thẩm Vấn?
Nghĩ đến 300 người đã bị bị bọn chúng bắt dẫn đi, chỉ 1 phần sống, 9 phần chết, và vài trăm người đã bị bọn chúng hạ sát tại chỗ, tôi thét to trong máy truyền tin:
– Thuyên chuyển tất cả bọn chúng về Vùng 6 Chiến Thuật.
– Nhận rõ thẩm quyền.
Chiều đến vì không đủ lực lượng, Thiếu tá Tham mưu trưởng cho lệnh rút về, tối đến Việt cộng lại tràn vào chiếm cứ toàn vùng.
Lính Mỹ thật sự tham chiến đánh đấm đàng hoàng vào ngày 11 Tết (âm lịch), tức là ngày 9 tháng 2/1968 (dương lịch).
Đến ngày 10 tháng 2/1968, nhiều đơn vị TQLC/Hoa kỳ hoặc bằng đường bộ, hoặc trực thăng vận nhảy xuống quận III, tấn công toàn vùng, đẩy bọn Việt cộng ra khỏi Quận III và làng Phủ Cam.
Trận chiến tại Quậân III xem như kết thúc, năm cây cầu tại Quận 3 bắc ngang giòng sông An Cựu thì cầu An Cựu, Cầu Kho Rèn, Cầu Bến Ngự, bị Việt cộng giựt xập hoàn toàn không xử dụng đuợc, cầu Nam Giao và cầu Ga cũng bị hư hại rất nặng, nhưng còn xử dụng tạm được. Nhà cửa, dinh thự trong quận bị thiệt hại nặng nề, Ty Bưu điện Huế không còn nhìn ra, hầu như đổ nát hoàn toàn.
Nhưng quan trọng nhất là sinh mạng đồng bào, chết quá nhiều, đại đa số là bị Cộng sản sát hại, một số ít bị bom rơi đạn lạc, xác chết đã sình thối, ở đâu cũng có, trong nhà, ngoài vườn , đường lớn, đường nhỏ.
Trong khi đó thì chiến sự vẫn tiếp diễn khốc liệt tại Quận II (Tả Ngạn) và Quận I (Thành nội).
Ngày 12 tháng 2/1968, Chiến đoàn A TQLC Quân lực VNCH gồm các tiểu đoàn 3 ,4, 5 thay thế chiến đoàn Dù, tiếp tục tấn công giải toả áp lực địch tại sân bay Tây Lộc, Đại Nội, khu Kỳ Đài.
Các đơn vị TQLC Hoa Kỳ cũng theo chân TQLC Việt Nam Cộng Hoà, đổ bộ lên Bao Vinh, đột nhập Thành Nội.
Toàn bộ mặt trận tại Quận Thành Nội (Quận I) kể từ ngày 12 tháng 2/1968 được chia vùng trách nhiệm như sau:
1- Phường Tây Linh, Tây Lộc trong đó có cửa Chánh Tây do trung Đoàn 3/SĐI của Trung tá Phan Bá Hòa chịu trách nhiệm.
2- Phía đông Đại Nội, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba do Tiểu đoàn 1/5 TQLC/Hoa kỳ và đại đội Trinh sát Sư đoàn I chịu trách nhiệm.
3-Tây-Nam Thành nội do Chiến đoàn A TQLC/VNCH chịu trách nhiệm.
4- Khu Đại Nội do Đại đội Hắc Báo của Sư Đoàn I chịu trách nhiệm, được tăng cường một đơn vị TQLC/Hoa Kỳ.
Vì thời tiết quá xấu nên không yểm đã bị hạn chế tối đa, đến ngày 15 tháng 2/1968, lần đầu tiên sau 15 ngày Huế có ánh mặt trời, Quân lực VNCH và Hoa kỳ phản công mạnh, nhiều trận đánh khốc liệt đã xảy trong toàn khu vực Quận I.
Đặc biệt, khu vực cam go và khốc liệt nhất là khu cửa Đông Ba, vùng trách nhiệm của Đại đội Trinh Sát Sư đoàn I, phối hợp cùng Tiểu đoàn 1/5 TQLC/Hoa kỳ.
Chính tên Đại Tá Lê Tư Minh, Tư lệnh mặt trận Huế của Việt cộng đã phải xác nhận: ”Trận đánh khốc liệt nhất là tại cửa Đông Ba, nhiều khi hai bên ta và lính Ngụy chỉ cách nhau vài chục mét ”.
Có lẽ Lê Tư Minh chưa bao giờ đọc lịch sử, nên không biết ”Tổng Thống Quân Vụ Đại Thần Nguyễn Tri Phương”, dưới triều đại Vua Tự Đức là ai, Ông là một Đại danh Tướng, một vị Tướng soái của dân tộc Việt Nam, kẻ đã giữ thành Hà Nội khi ở tuổi 74, đã chống trả lại cuộc tấn công của quân đội Pháp do Garnier chỉ huy tấn công thành Hà Nội vào ngày 20/11/1873.
Và bây giờ thời điểm tháng 2/1968, năm Mậu Thân tại Cố Đô Huế, lực lượng của Đại Tá Lê Minh Tư lệnh mặt trận Huế, đã đụng đầu với cháu nội của ”Tổng Thống Quân Vụ Đại Thần Nguyễn Tri Phương’’, Đại úy Nguyễn Tri Tấn, Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát Sư Đoàn I. Đương nhiên lực lượng của Đại tá Lê Minh phải thảm bại dưới tay Đại úy Nguyễn Tri Tấn – Ngày 18 tháng 2/1968 Đại úy Nguyễn Tri Tấn và đại đội Trinh sát của ông ta cùng với Tiểu đoàn 1/5 TQLC/Hoa kỳ đã đánh bật quân Việt cộng và hoàn toàn chiếm lại cửa Đông Ba.
Ngày 23 tháng 2/1968, trận chiến quyết liệt giữa đơn vị VNCH với đơn vị Việt cộng đang chiếm giữ Kỳ Đài. Trận chiến kéo dài suốt ngày, đến 5 giờ 12 phút chiều ngày 23/2/1978, quân ta đã làm chủ Kỳ Đài.
Sáng sớm ngày 24 tháng 2/1968, một đơn vị của Sư đoàn I BB, lên kỳ đài làm lễ thượng kỳ, muôn ngàn giọt lệ tuôn rơi của người dân Huế, khi nhìn thấy lá cờ thân yêu phất phới trên kỳ đài Ngọ Môn.
Chiến sự tại Quận I Thành nội đã tạm lắng dịu, tại Quận II, Việt cộng vẫn còn chiếm giữ. Danh dự và Trách nhiệm này dành cho Tiểu Đoàn 39, và 21 Biệt Động Quân nhận lãnh.
Ngày 22 tháng 2/1968, hai Tiểu Đoàn Biệt Động Quân 21 và 39 nhập trận.
Xuất phát từ Quận III, họ tiến quân về Vỹ Dạ và từ đó đạp chân lên vùng Gia Hội, Quận II, nơi cộng quân đang chiếm giữ.
Tiểu đoàn 39, 21 BĐQ lãnh phần trách nhiệm thanh toán cộng quân tại vùng Gia Hội. Gia Hội là khu đông dân cư nhất tại Quận II, khu thương mại của thành phố Huế, nhà cửa san sát nhau, dãy phố này nối liền với khu phố kia. Bọn Việt Cộng bám sát dân, bám sát từng khu phố, đục vách phá tường, di chuyển trong nhà, từ nhà này sang nhà kia, kháng cự lại với Tiểu đoàn 39, 21 BĐQ.
Thế nhưng Tiểu đoàn 39 và 21 BĐQ đã tạo được danh dự cho chính họ, cho quân lực VNCH, nhận lãnh thương yêu và lòng biết ơn của dân chúng Huế, khi họ dùng chiến thuật tác chiến trong thành phố, chấp nhận thiệt hại cho chính đơn vị họ, cận chiến với quân thù để không gây đổ nát, và bảo vệ tối đa sinh mạng của đồng bào trong vùng Gia Hội.
Gia Hội là một chiến trường đầy trắc trở và cam go, một trách nhiệm nặng ngàn cân mà Tổ quốc và đồng bào giao cho Tiểu đoàn 39, 21 BĐQ nhận lãnh, trách nhiệm tiêu diệt quân thù, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, trong một trận chiến ác liệt, khi kẻ thù dùng chiến thuật trộn lẫn dân với bọn chúng, để tạo khó khăn cho tiểu đoàn 39, 21 BĐQ.
Tiểu đoàn 39 và 21 BĐQ đã hoàn tất nhiệm vụ, họ đánh bật kẻ thù ra khỏi dân mà không gây tổn thương một sinh mạng nào cho dân chúng, họ đánh bật kẻ thù ra khỏi nhà cửa, tài sản của dân mà không gây một đỗ vỡ sứt mẻ nào, và dứt điểm tiêu diệt Bộ chỉ huy của Cộng quân tại chùa Tăng Quan Tự , Therevada.
Cuối cùng Tiểu Đoàn 39, 21 BĐQ là đơn vị khoá sổ cuộc chiến 26 ngày tàn bạo và đau thương tại Huế.

Ngày 26 tháng 2/ 1968 trận chiến Mậu Thân tại Huế chấm dứt.

Huế thật sự là một chiến trường đổ lửa đúng nghĩa, cũng là chiến trường danh dự của người lính VNCH, của quân dân Huế, quyết giữ Huế, cho dù phải trả một giá quá đắt, bằng máu đã chảy thành sông, xương trắng đã ngập đầy đồng, trước cuồng vọng quyết chiếm Huế quyết đoạt Huế của đảng Cộng sản miền Bắc. Bọn chúng đã không thành công, không chiếm được Huế, đã bị đánh bật ra khỏi Huế.
Huế trước Mậu Thân, dân chúng sửa soạn đón xuân trong niềm hân hoan của những ngày thanh bình, hưu chiến.
Huế trong những ngày Tết Mậu Thân, dân chúng đón xuân trong kinh hoàng, trong máu và nước mắt, trong thây người, xác chết.
Huế sau ngày Tết Mậu Thân, dân chúng đón xuân trong hoang tàn, tang tóc, trong ngậm ngùi, trong chờ đợi người thân, những người đã bị Việt cộng bắt đi chưa trở về.
Nhưng rồi, giờ qua giờ, ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, họ chợt hiểu những người thân yêu của họ đã bị Việt Cộng bắt đi, vĩnh viễn, ngàn đời sẽ không bao giờ trở lại. Vì tất cả đã bị giết chết bằng chôn sống, bằng mã tấu, bằng vật nặng đập vào đầu, và thân xác nguơì thân bị vùi lấp trong hố cạn, hầm sâu, đây đó trên vùng đất Thừa Thiên-Huế.
Huế sau Mậu Thân là khăn tang, áo chế, là hàng ngàn cỗ quan tài đầy đường, đầy phố. Huế phủ kín một giải khăn tang trắng, kéo dài từ thành phố lên đến Ba Đồn, nơi an nghỉ tập thể của hàng ngàn dân lành vô tội, nạn nhân của một cuộc giết chóc tàn bạo, bởi quân đội Nhân dân miền Bắc, quân Giải Phóng miền Nam, đã thi hành lệnh tàn sát của Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam.

***

Thống kê số nạn nhân đã bị Việt cộng giết hại,
mất tích, trong Tết Mậu Thân tại Huế :

***

Sau ngày 26 tháng 2/1968, nhiều cơ quan của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, Chính Phủ Hoa Kỳ, báo chí Việt Nam và ngoại quốc v. v. . . đã có những bản thống kê số đồng bào Huế bị Việt cộng sát hại trong thời gian Mậu Thân 1968, tất cả đều không được chính xác. Cơ quan này thì nói số nạn nhân là 4000 người, cơ quan kia thì nói 3000 người, thậm chí có một vài cơ quan hoặc báo chí không biết lấy tin tức và dữ kiện từ đâu, đưa ra con số thổi phồng là 7000 người, hoặc 8000 người.
Sự thật đã bị bóp méo không cần thiết, mà còn tạo phản ứng ngược đối với bọn Cộng sản Việt Nam, vốn đã là bè lũ láo lường, chối tội, và tạo thêm nghi vấn đối với dư luận quốc tế, nhất là đám phản chiến tại Hoa Kỳ, và đám ký giả Mỹ, thời kỳ đó vốn dĩ không ưa gì Chính phủ VNCH, không bao giờ nói lên tiếng nói đúng lương tâm, và lẽ công bằng cho Quân lực VNCH và cho dân chúng miền Nam Việt Nam.
Riêng phúc trình của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế gởi vào Bộ Tư Lệnh CSQG tại Sàigòn, con số nạn nhân là:
– 5327 người bị Việt cộng giết tại nhà, tại ngay trong thành phố, và một số lớn thi thể nạn nhân sau đó tìm thấy tại các mồ chôn tập thể, tại các quận thuộc vòng đai thành phố Huế.
– Số người mất tích vĩnh viễn, không có tin tức, không để lại một vết tích nào cả: 1200 người.
Con số 5327 này từ đâu ra? Tin được không? Làm sao tôi có thể nhớ được đến ngày hôm ngay? Mặc dầu đã hơn 40 năm qua.
Thừa Thiên Huế có 13 quận hành chánh và 73 xã từ phía Bắc Phong Điền giáp ranh với tỉnh Quảng Trị, kéo dài đến phía Nam là quận Phú Lộc sát cận chân đèo Hải Vân.
Để phù hợp với hệ thống hành chánh, lực lượng CSQG ngoài BCH/Tỉnh Thị, chúng tôi có 13 BCH/CSQG Quận và 73 đơn vị CSQG Xã, thường gọi là Cuộc Cảnh Sát.
Với số nhân viên đông đảo, trên 5000 nhân viên, cùng hệ thống truyền tin tối tân nhất trong thời gian đó, được trang bị từ cấp xã trở lên, vì thế mọi tin tức, mọi sự việc xẩy ra có tầm mức quan trọng ở bất kỳ nơi thôn ấp hẻo lánh nào, trên toàn cõi lãnh thổ Thừa Thiên Huế, Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực BCH Tỉnh đều nhận được báo cáo từ cấp Xã, Quận, gởi về rất nhanh, và sau đó chỉ trong khoảng thời gian ngắn, Trung Tâm Hành Quân Bộ Tư Lệnh CSQG tại Sàigòn đã có đủ dữ kiện, tin tức cần thiết để trình với vị Tư Lệnh CSQG.
Sau Mậu Thân, theo chỉ thị của tôi, các BCH Cảnh sát Quận, các cuộc Cảnh sát Xã, đã phối hợp chặt chẽ với Quận và Xã, giúp đỡ đồng bào, thân nhân những nạn nhân tìm kiếm tin tức, vết tích của những người đã bị Việt cộng bắt đi.
Mỗi khi phát giác được một hầm chôn tập thể nào, dù nhỏ, dù lớn, mọi chi tiết đều được ghi nhận và gởi về Trung tâm Hành Quân Cảnh Lực Tỉnh. Tại đây chúng tôi thành lập một tiểu ban theo dõi và cập nhật hằng ngày mọi tin tức liên hệ để trình vào BCH Vùng, cũng như BTL tại Sài Gòn.
Như vậy con số tổng kết 5327 đồng bào vô tội, bị Việt cộng sát hại trong Tết Mậu Thân, và số 1200 nạn nhân mất tích, là con số của Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực BCH/CSQG Thừa Thiên Huế, sau khi đã tổng kết tất cả mọi báo cáo từ 73 cuộc Cảnh sát và 13 BCH/ Cảnh Sát quận, trên toàn lãnh thổ tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế.
Nếu có ai đó hỏi tôi, thời gian đã 40 năm trôi qua làm sao nhớ con số chính xác 5327 ? – Tôi sẽ hỏi lại người đó, nếu bạn là người Huế đã từng là nạn nhân, đã từng sống những ngày cơ cực, nguy nan, kinh hoàng tại Huế trong tết Mậu Thân, bạn có thể quên những ngày đó được không? Nếu bạn có thể quên, thì may ra tôi có thể không còn nhớ con số 5327, bằng không tôi mãi mãi vẫn không thể quên, cho đến khi tôi nhắm mắt lìa đời .

Bản tổng kết các viên chức của Chính quyền VNCH bị bắt hoặc bị thảm sát :
– Thượng Nghị Sĩ Trần Điền. Ông bị bắt tại dòng Chúa Cứu Thế, Huế. Thi hài được tìm thấy tại Lăng Xá Bầu thuộc quận Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên.
– Ông Trần Đình Thương, Phó thị Trưởng Thị xã Huế, bị bắn chết tại ngay cổng nhà, đối diện với vườn hoa Bến Ngự thuộc quận III, thành Phố Huế .
– Ông Bửu Lộc, Phó Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên bị bắt tại nhà ở đường Lý Thường Kiệt, thuộc Quận III thị xã Huế. Sau đó bọn Việt cộng đem ông ra Bắc.
– Thiếu Tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh Đoàn Trưởng Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông thôn tại Huế, bị bắn ngay tại tư gia
– Ông Nguyễn văn Cư, Phó Giám Đốc CSQG vùng I, bị bắt và bắn chết gần tư gia.
-Ông Lê văn Phú nguyên trưởng phòng Hành Chánh BCH/CSQG Thừa Thiên, Quận Trưởng Quận II, bị bắt và bị bắn chết gần tư gia.
– Ông Trần văn Nớp, nguyên Trưởng ban nhân Viên BCH/CSQG Thừa Thiên, bị bắt và bắn chết gần tư gia.
– Ông Nguyễn văn Đãi, Phụ tá Đại Biểu Chính Phủ bị bắt tại nhà thị xã Huế. Sau đó bọn Việt cộng đem ông ra Bắc.
– Ông Nguyễn Khoa Hoàng, Chánh án toà Thượng thẩm Huế và người con trai bị bắt và bắn chết.
– Thiếu Tá Bửu Thạnh ủy viên tòa án Quân sự Mặt trận bị bắt và bị bắn chết
– Thầy Lê Văn Thi, nguyên giáo sư môn Vật Lý trường Quốc Học, sau này du học tại Mỹ, đậu bằng PhD về nguyên tử lực, về phục vụ tại Trung Tâm Nguyên tử lực Đà Lạt. Thầy ra Huế thăm nhà, bị bắt cùng với cụ thân sinh tại tư gia ở Cầu Lòn, thuộc Quận Hương Thủy, sau này đã tìm được xác cả hai người tại vùng xã Thủy Xuân, quận Hương Thủy.
– Bốn vị Giáo sư Đại học Y khoa người Đức, họ đến dạy Đại học Y Khoa Huế, theo chương trình giúp đỡ ngành Y Khoa Việt Nam, ngoài việc giảng dạy tại trường Đại học Y Khoa Huế, họ còn phục vụ tại Bệnh viện Trung ương Huế, đã săn sóc và cứu sống hàng ngàn bệnh nhân nghèo khó. Bốn vị giáo sư này là :
Bác sĩ Raimund Discher.
Bác sĩ Hort Gunther Kranick, và vợ.
Bác sĩ Slois Alterkoster.
Họ bị Việt cộng bắt vào sáng ngày mồng hai Tết tức sáng 31 tháng1/1968.
Đến tháng 4/1969 mới tìm ra hầm chôn của họ. Không như một vài tin tức đã nói hầm chôn họ tại trong khuôn viên chùa Tường Vân, nằm cách chùa Từ Đàm khoảng 3km về hướng Tây. Hầm chôn 4 vị bác sĩ này được tìm thấy ngoài khuôn viên chùa Tường Vân, nằm trong khu tam giác chùa Tường Vân, nhà máy nước Vạn Niên và chùa Từ Hiếu.
– Cha Dom Romain Guillaurn, bị bắn ngay tại dòng tu Thiên An, hai cha khác cũng thuộc dòng tu Thiên An là cha Urbain và cha Guy, bị bọn Việt cộng bắt dẫn đi, sau đó tìm được xác cạnh lăng Vua Đồng Khánh, với vết đạn bắn ở cổ và ở đầu.
– Linh Mục Bửu Đồng, bị bắt và sau đó tìm được xác tại Phú Xuân.
Ngoài ra, BCH Cảnh sát chúng tôi hoàn toàn không ghi nhận được có vị Thượng Tọa hoặc Đại Đức nào bị Việt cộng bắt, hoặc thảm sát trong biến cố này.
Việt Cộng đã hạ sát 5327 dân Huế và chôn tập thể ở những địa điểm khác nhau, tại thành phố Huế trong những ngày bọn chúng chiếm đóng và tại các quận vòng đai gần và xa thành phố như :
Ba quận trong thành phố là: Quận I, II, III, thuộc thị xã Huế.
Các quận ngoài thành phố như:
Phía đông thành phố : Quận Phú Vang.
Đông nam thành phố : Quận Phú Thứ.
Nam thành phố : Quận Hương Thủy.
Tây thành phố : Quận Nam Hòa
Tây bắc thành phố : Quận Hương Trà.
Những địa danh nơi có mồ chôn tập thể đó là:
Quận I :
Gần cửa Đông Ba.
Quận II :
Trường học Gia Hội, Bãi Dâu, Chùa Áo Vàng Therevada tức Tăng Quang Tự.
Quận III :
Sau lưng Tiểu Chủng Viện.
Quận Hương Thủy :
Cồn Hến, Lăng Xá Bàu, Lăng Xá Cồn, Nam Giao, gần Lăng Vua Tự Đức, cạnh Lăng Vua Đồng Khánh, cạnh Lăng Đông Cung Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh, Từ Hiếu, nhà máy nước Vạn Niên. Đồi Quảng Tế, khu vực dòng Thiên An, cạnh lăng Vua Khải Định, làng Châu Chữ, Phú Xuân, Phù Lương
Quận Hương Trà :
Cầu An Ninh, Trường Tiểu học An Ninh Hạ, Chợ Thông gần chùa Linh Mụ, Trường Văn Chí .
Quận Phú Vang , Phú Thứ :
Tiên Nộn, Đồng Di, Tây Hồ.
Quận Nam Hòa :
Vùng Lăng Vua Gia Long, Sau Làng Đình Môn, Khe Lụ, Khe Đá Mài.
Và còn nhiều nơi nữa . . .
Tất cả có 26 mồ chôn tập thể ở các quận trên, mồ chôn ít nhất là 3 người, trung bình là 400 người, nhiều nhất là 800 người.
Theo BCH Cảnh sát chúng tôi ghi nhận sau các cuộc khám nghiệm cho thấy, trong số 5327 nạn nhân có khoảng 2/3 người bị bắn hoặc bị vật cứng đập bể đầu, bể sọ, số nạn nhân còn lại 1/3 người chết không có vết tích nào trên thân thể, chứng tỏ rằng họ chết vì bị ngộp thở, bị chôn sống.
Mậu Thân 1968 và nay năm 2008, đã 40 năm trôi qua, bao giờ công lý và công bằng được trả lại cho 5327 người đã chết vì cuồng vọng của Hồ chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam?
Một số câu hỏi đã được đặt ra:
Ai ra lệnh? ai thi hành? ai chịu trách nhiệm vụ tàn sát dân Huế trong tết Mậu Thân 1968?

– Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ im lặng, chỉ cựu Đại tá cộng sản Bùi Tín, hiện đang sống tại Pháp, một đảng viên Cộng sản lâu đời, có thể là một kẻ trá hồi chánh với những người Quốc gia, đã gián tiếp trả lời giúp cho Chính trị bộ đảng Cộng sản Việt Nam, tráo trở đổi trắng thay đen nói rằng:
”Khi mở cuộc tiến công vào Huế, bộ đội miền Bắc đã cơ bản chiếm được thành phố Huế vào đêm 4 tháng 2, ngay lúc ấy đã có trên 5 ngàn sĩ quan, quân nhân đủ loại ra trình diện.
Trong bản quy định kỷ luật chiến trường có ghi: Không được đánh đập tù binh, chỉ có các cán bộ chỉ huy và chuyên môn mới được hỏi cung tù binh . . .
Kiểm tra lại thì không một ai, không một cấp nào ra lệnh thủ tiêu tù binh cả.”

5 ngàn sĩ quan quân nhân đủ loại ra trình diện các đồng chí của ông Bùi Tín trong đêm 4 tháng 2/1968 là chuyện bịa đặt, láo lường, miệng lưỡi của những tên Cộng sản lưu manh từ xưa đến nay vẫn vậy, thực tế không hề có chuyện đó, mà chỉ có 5327 thường dân Huế vô tội bị các đồng chí của ông Bùi Tín bắt, họ không mặc quân phục cũng chẳng cầm súng chiến đấu tại mặt trận, thì tại sao có thể gọi là Tù binh? và cũng chẳng phải là hàng binh, 5327 thường dân vô tôi bị giết là tù nhân dân sự, một số bị bắn chết ngay tại nhà, tại thành phố, số lớn còn lại đã bị các đồng chí của ông Bùi Tín hạ sát tất cả, khi thua trận tháo chạy. Bùi Tín đã xuyên tạc sự thật để chạy tội cho ông Hồ chí Minh, cho các tên sát nhân trong Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, thậm chí còn nói những người bị sát hại là do bom đạn của Mỹ. Bom đạn nào của Mỹ khi các nạn nhân đều chết trong tình trạng ngộp thở vì bị chôn sống, khi các nạn nhân bị chết đều bị vỡ đầu, vỡ sọ do vật cứng đập vào đầu.
Tệ hơn nữa Nguyễn Đắc Xuân còn nói, cuộc tàn sát đồng bào Huế là do CIA và quân đội Mỹ giả danh quân giải phóng giết dân Huế, để làm giảm uy tín của cách mạng trước người dân Huế.
Đảng CSVN còn có hành vi tàn mạt vô lương, sau tháng 4-75, khi đã cướp trọn miền Nam VN, chiếm trọn Huế, bọn bất lương vô liêm sỉ này lại dùng búa đập chết 5327 thi hài nạn nhân Mậu Thân một lần nữa – Ngưòi chết hai lần – Bọn chúng đập tan tành hai tấm bia mộ lớn đã dựng tại nghĩa trang Ba Đồn – Một giành cho những nạn nhân Công giáo và một giành cho nạn nhân Phật giáo. Mục đích của đảng cộng sản chỉ là chối tội, phi tang, nhưng sao lại phải dùng phương cách vô nhân đạo này với những người đã chết, họ đã an nghỉ ngàn đời trong lòng đất lạnh – Bia mộ đã bị đập nát, nhưng đảng cộng sản VN có tẩy xóa, che dấu tội lỗi cách nào đi nữa thì ngàn năm bia miệng vẫn còn ………..

Còn Tiếp

 

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s