Trang chủ > HỒI KÝ, Lịch sử, Tội Ác > Biến động Miền Trung 17

Biến động Miền Trung 17

Nguồn: Chinhnghia.com

Biến Động Miền Trung

Tác Giả:  Liên Thành

Phần 17

***

Giai Đoạn chót của “Chiến Dịch Bình Minh” :


Cho đến ngày 14/5/1972 áp lực quân sự của địch vẫn còn đè nặng lên Huế, căn cứ Bastogne vẫn còn bị địch chiếm giữ, pháo 130 ly của Việt cộng vẫn từng giờ một bắn đều đặn vào thành phố Huế và tuyến đường Huế-Đà Nẵng, đồng bào Huế vẫn tiếp tục di tản xuôi về phương Nam để tránh giặc cộng, thì ngay đêm hôm đó tôi nhận được điện thoại của Trung tá Tạo, Chánh văn phòng của Tư lệnh CSQG, Đại tá Nguyễn Khắc Bình : – Liên Thành, ngày mai Đại tá Tư lệnh sẽ ra thăm đơn vị em, gởi gấp nội đêm nay vào cho Trung Tá bản đề nghị thăng cấp và trao tặêng huy chương cho một số nhân viên hữu công của em, hàng sĩ quan cũng như Hạ sĩ quan (CSQG chức vụ thấp nhất là Hạ sĩ quan), ngày mai Đại tá Tư Lệnh sẽ trao gắn cho họ, nhớ tổ chức buổi lễ cho chu đáo. Tôi ngắt lời Trung tá Chánh văn phòng: – Trình Trung tá, Đại tá Tư lệnh ra Huế lúc này nguy hiểm quá. Tình hình vẫn còn rất nặng, mặt trận phía Bắc và Tây thành phố Huế, đang ở giai đoạn cao điểm. Bastogne còn nằm trong tay bọn chúng, Huế tiếp tục bị pháo hằng giờ, dân chúng vẫn hỗn loạn, vẫn tiếp tục di tản vào Đà Nẵng . – Trung tá hiểu, nhưng những gì ông đã quyết định rồi thì ông không thay đổi đâu ! Ngay tối hôm đó, tôi họp với Đại úy Vinh, Ân, Trinh, Đại úy Quế, Trưởng phòng Quản trị, và Trung úy Phạm Thìn, Trưởng ban Nhân viên. Chúng tôi thiết lập một danh sách đề nghị thăng cấp cho một số anh em hữu công trong chiến dịch Bình Minh. Danh sách dài lê thê như sớ táo quân, thật tình không nhớ hết, tôi chỉ nhớ đã đề nghị cho 10 Đại úy thăng cấp Thiếu Tá, khoảng14 trung úy thăng Đại úy, số Thiếu úy thăng Trung uý và các anh em Hạ sĩ quan, cũng như số huy chương quá nhiều không nhớ hết nổi. Cũng trong phiên họp Đại úy Vinh hỏi tôi: – Vậy tên anh đâu? Tôi cười nhìn anh em: – Ôn Phó ơi ! mình đi khen mình, rồi lại đề nghị thăng cấp cho mình, vậy thì mình là dân đại cà chớn. Ôn phó yên chí, kỳ này Ôn lên Thiếu tá, mình đổi, Ôn lên làm Chỉ huy trưởng, tôi trụt xuống làm Chỉ huy phó có sao đâu, cả bọn anh em tôi đều cười. Ngày hôm sau, tức ngày 15/5/1972 Đại tá Tư lệnh CSQG Nguyễn Khắc Bình và phái đoàn từ Sàigòn ra thăm BCH/Thừa Thiên- Huế vào khoảng 1 giờ chiều. Huế trong ngày này tình hình địch còn rất nặng, Việt cộng tiếp tục pháo hằng loạt 130 ly vào thành phố, cuộc hành quân Bình Minh của lực lượng CSQG/ Thừa Thiên- Huế vẫn đang tiếp diễn. Mặc dầu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã có mặt tại Huế từ hơn hai tuần nay, nhưng dân chúng di tản về hướng Đà Nẵng vẫn tiếp tục, có lẽ một ám ảnh Mậu Thân vẫn chưa nhạt mờ trong trí họ. Sự hiện diện của Đại Tá Tư Lệnh CSQG Nguyễn Khắc Bình và phái đoàn tại mặt trận Huế, thoạt đầu chỉ là thị sát cuộc hành quân Bình Minh, mà lực lượng Cảnh sát đang mở ra trên toàn lãnh thổ Thừa Thiên-Huế, với mục đích phá vỡ mọi mưu toan của địch, định thực hiện một cuộc tổng nổi dậy tại Huế. Ông và phái đoàn đến Huế cũng với mục đích thăm viếng, an ủi, săn sóc, khích lệ tinh thần anh em Cảnh sát Thừa Thiên Huế, không ngờ lại có một tác dụng và hậu quả hết sức quan trọng đối với tình hình Huế lúc đó, hành động này đã tác động rất mạnh tới tinh thần đồng bào Huế. Vì lạ lùng thay, ngay vào chiều hôm đó, khi tôi yêu cầu đài phát thanh Huế phát đi nhiều lần phóng sự cuộc thăm viếng của Đại Tá Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh CSQG và buổi lễ tưởng thưởng chiến sĩ CSQG hữu công, nhất là đài truyền hình số 9 Huế, phát nhiều lần hình ảnh buổi lễ, thì ngay sáng ngày hôm sau, Trưởng trạm kiểm soát Huế- Đà Nẵng, đã trình với tôi số lượng dân chúng di tản vào Đà Nẵng giảm xuống rất nhiều. Tôi phân vân, nghĩ mãi vẫn không có câu trả lời, tại sao lại có chuyện này, nguyên do nào đã làm cho dân chúng Huế ngưng không di tản vào Đà Nẵng nữa ? Vào khoảng 3 giờ chiều cùng ngày, khi tôi đang bận rộn tại Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, thì nhân viên tiếp tân báo cho tôi biết có một vị Thượng Tọa muốn gặp tôi, tôi giật mình và thầm nghĩ: “Giặc đã sát bên lưng, các ông còn muốn gì nữa mà gặp tôi, lại muốn biểu tình phản đối chuyện gì nữa đây?” – Tuy nhiên tôi vẫn nói với nhân viên mời Thượng Tọa vào phòng tiếp chuyện. Vừa rời Trung tâm Hành quân Cảnh Lực, tôi đã gặp vị Thượng Tọa đang đứng đợi ngay ngoài cửa phòng của tôi, tôi rất ngạc nhiên, nhưng vì có nhân viên đứng cạnh nên tôi vẫn giữ lễ chắp tay và miệng nói : – A di Đà Phật, Thầy đi mô đây ? – Vô phòng, vô phòng, rồi nói chuyện. Ông là Thượng Tọa Thích Chơn Trí, chú của tôi, đi tu từ nhỏ. Vừa khép cửa phòng tôi hỏi Ông : – Thưa Chú, có chuyện chi cần không, bọn chúng đang pháo dữ lắm, chú đi nguy hiểm quá. – Biết cháu bận, chú chỉ gặp và hỏi cháu tình hình có yên không, vì các gia đình Phật tử của chú họ định chạy vào Đà Nẵng lánh nạn, nhưng hồi đêm xem đài truyền hình thấy ông Chánh Mật Thám ở Sàigòn ra thăm Huế làm lễ gắn lon, gắn huy chương cho Cảnh Sát, chú và các gia đình Phật tử suy luận như vậy là mình không mất Huế, Chính phủ không bỏ Huế phải không? Chú muốn hỏi cháu để về nói lại với họ, vì cháu biết rồi, chạy giặc cực khổ lắm. Tôi cười và nói với ông: – Chú ơi, chú nhà quê quá, bây giờ còn Tây nữa đâu mà gọi ông ta là “Chánh Mật Thám”, ông là Đại tá Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh Cảnh Sát của bọn cháu. Tình hình mỗi ngày một khá hơn, Trung Tướng Trưởng đã có mặt tại Huế cả hai tuần nay, lực lượng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Sư Đoàn I BB, dưới quyền của Trung tướng Trưởng đang phản công đẩy lui bọn Việt cộng ra xa thành phố Huế, và ngày hôm qua (15/5/1972), đơn vị Trinh sát của Sư đoàn I BB đã nhảy xuống chiếm lại căn cứ Bastogne, và như chú và đồng bào thấy đó, Đại Tá Bình ngày hôm qua có mặt ở Huế, ông là nhân vật quan trọng của Chính phủ, ông ra Huế trong cảnh súng vẫn còn nổ, pháo địch vẫn còn bắn vào thành phố, có phải là ông muốn nói với đồng bào Huế và Phật tử của chú là chính phủ quyết tâm giữ Huế hay không, đúng vậy không? – Đúng rồi ! – Vậy thì tại sao chú và đồng bào Phật tử của chú lại định bỏ Huế mà đi? – Đúng rồi ! – Vậy là không cần phải chạy nữa phải không? Ông Chánh Mật Thám từ Sài gòn ra thăm Huế, thì tại răng mình lại bỏ Huế mà chạy. – Thì đúng rồi, chú và đồng bào Phật tử chạy làm chi. Tôi không biết mình đã trở thành sĩ quan Tâm lý chiến từ hồi nào mà truyên truyền với ông chú của tôi Thượng Tọa Thích Chơn Trí, một cách ngọt lịm như vậy, nhưng một điều chắc chắn là những ngày sau, còn rất ít dân chúng bỏ Huế chạy vào Đà Nẵng. Cám ơn Thiếu Tướng Tư lệnh Nguyễn Khắc Bình và phái đoàn của Ông. Ông đã ra Huế trong cảnh Huế đang là một chiến trường nặng ký, pháo 130 của cộng sản đã dàn chào ông hai lần, khi ông và phái đoàn vừa đặt chân xuống thành phố Huế và trong khi ông đang có mặt tại BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Chúng tôi, những thuộc cấp của ông trong lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế, rất xúc động và hiểu rõ rằng, đó là tình cảm ưu ái của một người chủ gia đình đối với các thành viên dưới một mái nhà, hơn là hành động của một vị chỉ huy khi thăm viếng để khích lệ, săn sóc, an ủi những chiến sĩ CSQG dưới quyền, đang cố gắng thi hành trách nhiệm và bổn phận mà ông giao phó : Bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào . Ngoài ra cũng không quên ơn ông và phái đoàn, vì sự hiện diện của ông và phái đoàn tại Huế vào thời điểm đó đã tạo miền tin cho dân chúng Huế : Huế sẽ không mất, Chính phủ quyết tâm giữ Huế.
Ông đã tạo được niềm tin trong lòng người dân Huế, vì thế dân chúng quyết ở lại Huế, không bỏ Huế mà chạy. Tôi cũng không quên nói thêm sau phần thuyết trình của tôi với Đại Tá Tư lệnh và phái đoàn, cuối buổi thuyết trình Đại Tá Tư lệnh hỏi tôi : – Hiện tại em cần BTL giúp gì? – Khó khăn và trở ngại nhất của BCH/Thừa Thiên-Huế là càng sớm càng tốt, phải di chuyển số tù nhân vừa mới tạm giữ trong chiến dịch Bình Minh, và số tù nhân cũ hiện đang giữ tại Trung Tâm cải huấn, tổng số khoảng gần 2 ngàn, họ phải rời khỏi Huế ngay, vì nếu Việt cộng tấn công vào Huế, số này được chúng giải thoát và trang bị cho, thì thật là một đại họa cho Huế, cho dân chúng Huế, cuộc tắm máu lần này nếu xảy ra, sẽ tàn bạo gấp mấy lần Mậu Thân 1968. Xin Đại Tá cấp cho phương tiện di chuyển họ ra khỏi Huế càng sớm càng tốt. – Em định đưa họ đi đâu? – Trình Đại tá Côn Sơn. – Được rồi, BTL sẽ cố gắng cấp phương tiện cho em trong thời gian sớm nhất.

Hơn một tuần sau, Dương vận hạm HQ500 của BTL Hải Quân VNCH cập bến Thuận An, tôi giao trách nhiệm di chuyển số tù nhân này xuống tàu cho Chỉ huy phó của tôi là Đại úy Trương văn Vinh, và Phụ tá ngành Đặc biệt của tôi là Đại Úy Trương Công Ân, đồng thời cử Trung Tâm phó Trung Tâm thẩm vấn, Trung úy Nguyễn Thế Thông, cùng với 20 thẩm vấn viên đi cùng tù nhân ra Côn Sơn, để hoàn tất hồ sơ thẩm vấn. Chúng tôi cũng được BTL tăng cường 20 thẩm vấn viên của Khối CSĐB, do Thiếu tá Hải làm trưởng đoàn, bay ra Côn Sơn phụ giúp thẩm vấn để hoàn tất thật nhanh hồ sơ theo lệnh của Đại Tá Tư lệnh. Xin cám ơn Đại Tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng khối CSĐB, xin cám ơn Thiếu tá Hải [Tôi xin lỗi đã không nhớ rõ họ của ông] đã giúp đỡ tận tình cho BCH/CSQG Thừa Thiên hoàn tất nhiệm vụ rất nhanh, chỉ trong vòng 1 tháng. Ngoài ra trong dịp thăm viếng này, Đại tá Tư lệnh đã thăng cấp cho một số sĩ quan và Hạ sĩ quan của BCH/CSQG Thừa Thiên Huế, trong đó có tôi, thăng cấp Thiếu tá ngày hôm đó, số còn lại sau đó tuần tự Nghị định thăng cấp gởi về, tổng cộng có 9 Sĩ quan thăng cấp Thiếu Tá kể cả tôi : 1- Chỉ huy Phó : Thiếu tá Trương văn Vinh 2- Phụ tá ngành CSĐB : Thiếu tá Trương công Ân 3- Trưởng Phòng Hành quân : Thiếu tá Đoàn Đích 4- CHT/ quậân Phong Điền : Thiếu tá Nguyễn thế Hiển 5- CHT/ quận Quảng Điền : Thiếu tá Trần Đức Túc 6- CHT/ quận Nam Hoà :Thiếu Tá Dương Phước Tấn 7- CHT/ quậân Vinh Lộc :Thiếu Tá Tôn Thất Trang 8- Trưởng phòng Tư Pháp: Thiếu tá Nguyễn văn Ngôn Có hai Sĩ quan rất xứng đáng, tôi trông mong cho họ được thăng cấp trong lần đó, là Đại úy Lê Văn Phi, Chỉ huy trưởng quận Hương Trà và Đại úy Phạm bá Nhạc, Chỉ huy trưởng quận Hương Thủy, nhưng lần này họ không có tên trong bản Nghị định, có lẽ họ đã thiếu một số điều kiện nào đó. Tôi xin lỗi hai anh. Sau này bạn đồng nghiệp của tôi Thiếu Tá Hàn, Chỉ huy trưởng BCH/ tỉnh Quảng Tín nói đùa với tôi: – BCH/Thừa Thiên là con đẻ của Thiếu Tướng Tư lệnh, thăng cấp một lần 9 Thiếu tá. Tôi nói với Thiếu tá Hàn: – Ông nói sai rồi, chúng tôi là con cưng của Thiếu tướng Tư lệnh, vì chúng tôi đội trên đầu gần 1 ngàn quả đạn 130 ly của Việt cộng thì vai phải mang Thiếu tá là đúng rồi.
***


ĐOẠN KẾT

***


Tôi là kẻ đang kể câu chuyện “Ngàn lẻ một đêm” của xứ Huế. Vì có cả ngàn chuyện, nên cứ lan man từ chuyện này sang chuyện khác – Tôi cũng đã cố gắng hết sức, nhưng quý vị cũng hiểu dùm, không thể một lần, hay một cuốn sách, mà tường trình cặn kẽ đủ hết chi tiết đã xảy ra trong hàng chục năm trời cùng quý độc giả được. Nếu quý vị cho phép, tôi hy vọng sẽ được kể tiếp vào những dịp khác . Bây giờ, tôi xin phép ngưng câu chuyện dưới đây, để tạm kết thúc một phần trong giai đoạn này .


Phái đoàn Quốc hội VNCH thăm Huế.
– Quý vị Dân Biểu các ông là ai ?

Tình hình chiến sự tại chiến trường Huế mỗi ngày mỗi mỗi lạc quan hơn, phần thắng nghiêng hẳn về phía Quân lực VNCH. Thành phố Huế từ sau ngày 15/5/1972, ngày Thiếu úy Hiệp, Trung đội trưởng cùng Trung đội Trinh sát của ông ta nhảy trực thăng ngay trên đầu địch, đánh bật cộng quân ra khỏi cao điểm Bastogne, Huế không còn bị địch pháo kích nữa . Ngày 19 tháng 5/1972, một phái đoàn dân biểu của Quốc hội VNCH từ Saigòn ra thăm chiến trường Trị Thiên-Huế. Gọi là phái đoàn cho có vẻ long trọng, thật ra chỉ có 4 vị Dân biểu thuộc thành phần đối lập với chính phủ, những Dân biểu thuộc khối Ấn Quang, hai trong bốn người đó là đệ tử thân tín của “Thầy” Thiện Siêu, của chùa Từ Đàm. Trước đây họ đắc cử Dân biểu đơn vị Thừa Thiên-Huế cũng nhờ thầy lo cho, trong 4 người đó có nữ Dân biểu Kiều Mộng Thu, mà báo chí Sàigòn thường gọi là “ Kiều lá đổ ”. Họ đến Huế sau khi thăm xã giao Đại Tá Tỉnh Trưởng Tôn Thất Khiên, bốn vị dân biểu yêu cầu Đại tá Tỉnh Trưởng lệnh cho Cảnh sát, để họ vào trại tạm giam thăm số tù nhân vừa bị bắt trong chiến dịch Bình Minh. Tôi được Trung úy Tế, Chánh văn phòng của Đại tá Tỉnh trưởng chuyển lệnh Đại tá tiếp phái đoàn Dân biểu và tùy nghi hướng dẫn phái đoàn thăm viếng tù nhân. Đại tá Tỉnh trưởng là người ở vị trí và cương vị của một ông quan đầu tỉnh, của một người cai trị dân, là cương vị của một người làm chính trị và ngoại giao, phải mềm dẻo, xã giao với phái đoàn Dân biểu Quốc hội, nhất là những vị này thuộc khối đối lập trong Quốc hội VNCH. Nhưng tôi ở trong cương vị của một người chịu trách nhiệm về an ninh tình báo, thì thật tình, cho dù có lệnh của Đại tá Tỉnh trưởng, tôi vẫn không thể thoả mãn những yêu cầu của phái đoàn Dân biểu bởi lẽ : – Tôi hiểu rõ mục đích và ngụ ý của cuộc thăm viếng gọi là ”Thăm viếng chiến trường trị Thiên-Huế”, nhưng thực chất là thăm viếng tù nhân của chiến dịch Bình Minh, để thông tin, để tạo niềm tin cho một số cơ sở nằm vùng Việt cộïng, đã bị bắt, đừng khai báo gì, và cũng để có thể xin bảo lãnh số cơ sở nào đó, theo lời yêu cầu của Thích Thiện Siêu.
Nếu họ làm được những yêu cầu của Thích Thiện Siêu, đương nhiên nhiệm kỳ bầu cử kế tiếp họ sẽ được Thích Thiện Siêu yểm trợ để tái đắc cử. Thực chất là vậy, họ viếng thăm chiến trường Trị Thiên-Huế chẳng phải vì gian lao, cực nhọc của các chiến sĩ đang ngày đêm xả thân bảo vệ Trị Thiên-Huế, trước làn sóng xâm lăng của bọn cộng sản. Sao họ không thăm viếng chiến trường, ủy lạo anh em binh sĩ, sao không vào thăm Quân y viện Nguyễn Tri Phương, để thấy tận mắt những chiến sĩ Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Binh sĩ Sư đoàn I BB đang quằn quạïi đau đớn trên giường bệnh, những người đó đã hy sinh một phần thân thể, và cả cuộc đời cho đất nước, cho dân tộc, mà họ lại ra Huế chỉ để đi thăm những kẻ hoạt động cho địch, đang mưu toan Tổng nổi dậy, biến Huế thành một Mậu Thân lần thứ hai, đã bị lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế bắt giữ. Tóm lại, họ chỉ vì muốn được hổ trợ của quý Thầy, để có được những lá phiếu của đồng bào Phật tử Huế cho nhiệm kỳ Dân biểu kế tiếp của họ mà thôi. Nói ra thì thật đau lòng, nhưng đó là một sự thật – Hành động của họ thật đáng buồn, đáng phỉ nhổ ! Khoảng 3 giờ chiều ngày 19/5/1972, tôi tiếp phái đoàn 4 vị Dân biểu. Theo lẽ thông thường, tôi thuyết trình tình hình địch, tình hình bạn v .v. . , nhưng tôi không làm chuyện đó, lởi lẽ tôi đã biết rõ mục đích của họ, và nói thật lòng, họ không đáng và không xứng, để tôi phải thuyết trình mọi việc. Sau khi phái đoàn an vị, nữ Dân biểu vào đề ngay: – Chúng tôi đã gặp Đại Tá Tỉnh trưởng sáng nay, và đã được Đại tá chấp thuận, mong rằng Thiếu Tá Trưởng ty cho chúng tôi được thăm viếng một số đồng bào đã bị Thiếu tá bắt giữ trong những ngày vừa qua, và đây là danh sách những người mà chúng tôi muốn gặp và trực tiếp nói chuyện với họ – Vừa nói vừa đưa cho tôi một danh sách dài. Tôi nhìn vào danh sách có khoảng 20 người gồm có: Bửu Chỉ, Sinh viên, Nguyễn Hữu Đính, kỹ sư Canh nông, Hoàng thị Thọ, học sinh, Nguyễn khoa Phẩm, chủ tịch Hội đồng Tỉnh Thừa Thiên, Lê Phước Á, giáo sư, Lê Quang Nguyện, Nghị viên Hội đồng Tỉnh, v.v. . . Tôi mỉm cười giao lại bản danh sách cho nữ Dân biểu Kiều Mộng Thu và nói: – Thưa bà và quý vị Dân Biểu, tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của quý vị được, bởi lẽ những người này là cơ sở nội thành của Trung tá cộng sản Hoàng Kim Loan, hơn nữa, họ đang ở trong thời gian thẩm vấn không thể gặp gỡ thăm viếng họ được. Cả 4 Dân biểu đều đổi sắc mặt và có chút giận dữ trên nét mặt của họ. Ông Dân Biểu người Huế hỏi lại tôi: – Ông Trưởng ty nói chi? Chúng tôi là Dân biểu, những người đại diện cho dân, chúng tôi có quyền thăm viếng những người dân lành vô tội bị ông bắt bớ bừa bãi. – Vâng đúng quý vị là Dân biểu, quý vị có quyền đó, và nhiều quyền nữa, ngay cả quyền bất khả xâm phạm, và quyền vu khống nhân viên công lực. Ông Dân biểu có bằng chứng nào buộc tội chúng tôi bắt bớ dân lành vô tội? Trong bản danh sách bà Nữ Dân biểu vừa đưa cho tôi xem, tất cả những người đó là cơ sở nội thành quan trọng của tên trung tá Việt cộng Hoàng Kim Loan. – Chúng tôi muốn xem hồ sơ những người đó. – Xin lỗi tôi không thể để ông Dân biểu xem những hồ sơ đó được, ông Dân Biểu không có quyền. – Anh cho lệnh Cảnh sát bắt bớ dân lành từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh, nhốt vào trại giam cả hơn một ngàn người thật là quá đáng, chuyện này chúng tôi sẽ đưa ra Quốc hội, và có thể tôi sẽ đề nghị cắt giảm ngân sách của bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, ông Trưởng ty cứ chờ xem. – Vâng tôi chờ, nhưng đó là chuyện của ông Dân Biểu và BTL Cảnh sát, chẳng liên quan gì đến tôi. – Thật là một Trưởng ty Cảnh sát du đãng, không xem luật pháp ra gì. Thật tình đã quá mức chịu đựng của tôi, nhưng tôi vẫn bình tĩnh trả lời ông ta: – Ông Dân biểu gọi tôi là Trưởng ty Cảnh sát du đãng vẫn chưa đúng, phải gọi tôi là Trưởng ty Trùm du đãng thì đúng hơn, vì du đãng không trị được du đãng mà phải là trùm du đãng mới trị được du đãng. – Khẩu hiệu của các anh là : “Cảnh sát là bạn dân”. Bạn dân cái gì mà bắt nhốt dân hằng loạt ? – Ông Tư Lệnh của chúng tôi Đại Tá Nguyễn Khắc Bình đã có giải thích khẩu hiệu đó rồi: “Cảnh Sát là bạn dân, nhưng chỉ bạn của dân lương thiện mà thôi ” . Nếu ông Dân biểu còn giữ thái độ nóng nảy không lịch sự, tôi buộc lòng không tiếp ông được nữa, và xin mời ông ra ngoài, tôi chỉ tiếp ba vị này mà thôi. Nữ Dân biểu Kiều Mộng Thu thấy tình hình quá gây cấn, vội can: – Thôi, thôi, bỏ qua đi, Liên Thành em cho chị và ba vị đây vào thăm họ một lúc thôi, mọi chuyện xong ngay, xem như chẳng có gì xảy ra. Tôi vẫn giữ nguyên quyết định lúc đầu: – Thưa bà Dân Biểu, không thể được, sau khi thẩm vấn xong, quý vị muốn thăm bất cứ khi nào bao lâu cũng được. Ông Dân biểu hỏi tôi: – Vậy thì bao lâu? – Tùy theo họ, tùy theo sự hợp tác của họ với nhân viên thẩm vấn. – Nói như vậy thì cũng bằng không. Có lẽ ông Dân biểu này quá giận, nên đã không kiểm soát nổi hành động và lời nói của mình, nên ông tiếp tục hỏi tôi một câu hết sức không thông minh chút nào: – Nếu bây giờ chúng tôi qua thẳng Trung Tâm Thẩm Vấn , lính gác và ông có cho chúng tôi vào không? Tôi bây giờ thật sự đã hết kiên nhẫn với ông Dân biểu này, tôi nói bằng giọng từ tốn, nhưng chắc nịch : – Tôi nhắc lại với ông Dân biểu, Huế thật sự chưa yên, đang trong tình trạng chiến tranh, kẻ nào mưu toan hoặc có hành động xâm nhập cơ quan công quyền, nhất là Trung tâm thẩm vấn, nơi đang giam giữ tù nhân Việt cộng tôi sẽ cho lệnh lính gác bắn hạ ngay, ông Dân biểu nghe rõ chưa?

Hai ngày sau, ông Dân biểu họp báo tại Sàigòn, báo chí thân hữu của ông ta đăng tải lung tung, nào là Thừa Thiên Huế có 2 Tỉnh trưởng, ngoài Đại Tá Tôn Thất Khiên còn có Tỉnh Trưởng Liên Thành, nào là Trưởng ty Cảnh sát vô kỷ luật, hành động phạm pháp bắt người bừa bãi, BTL Cảnh sát phải cất chức Trưởng ty Liên Thành truy tố ra tòa, đòi cắt ngân khoản của lực lượng CSQG ….. Cũng may, Tư lệnh của tôi Đại Tá Nguyễn Khắc Bình, ông là người mà không một ai có thể che dấu sự thật trước mặt được – Hơn nữa, đây là chuyện ông đã nắm vững tường tận. Một người nếu không có khả năng chuyên nghiệp, thì làm sao có thể một lúc kiêm luôn ba chức vụ tối hệ trọng của quốc gia, đó là Tư Lệnh CSQG, Đặc ủy Trưởng Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, và Tổng thư ký Hội đồng An ninh và Tình Báo Quốc Gia. Còn ông Dân biểu là người đã mang tai tiếng nhiều (xin đừng lộn với tiếng tăm), làm sao vu khống tôi trước mặt Đại Tá Nguyễn khắc Bình được. Sau hàng loạt bài báo của ông Dân biểu, tôi sẵn sàng chờ đợi bàn giao để trở về đơn vị tác chiến. Nhưng ngày qua ngày, Huế bình yên và tôi …..cũng bình yên. Tôi sở dĩ không nêu tên vị Dân biểu đó ra đây, vì hiện ông cũng đã lớn tuổi, cũng đang định cư tại nước ngoài, vì tôn trọng tuổi già không muốn gợi lại kỷ niệm buồn giữa ông và tôi. (tôi với ông chỉ là cá nhân, đúng hơn, phải nói giữa ông với đất nước). Hiện tại ông cũng như bao nhiêu người, phải bỏ nước ra đi lưu lạc xứ người, chắc ông cũng đã có nhiều suy nghĩ vì những hành động “nối giáo cho giặc” khi xưa, nếu thật sự ông là người quốc gia chân chính – Nỗi buồn to lớn nhất trong đời của tôi và ngay của ông là nỗi buồn mất nước, mang thân phận lưu vong xứ người cũng đã quá đủ, không cần nhắc thêm nữa. Nhưng cũng phải xin có một kết luận chung : Dù bạn hay thù, dù vô tình hay cố ý, dù vì bất cứ mục đích nào, những kẻ cầm dao đâm sau lưng, bao giờ cũng đáng bị nguyền rủa hơn bất cứ loại người nào khác ….
***
Trên nguyên tắc, “Chiến dịch Bình Minh” kết thúc vào đúng 3 giờ chiều ngày 22 tháng 5/ 1972. Với kết quả 1500 cơ sở nội ngoại thành bị bắt giữ. Lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế đã phá vỡ và đập tan âm mưu Tổng nổi dậy của Vc vào mùa hè đỏ lửa 1972. Thành ủy viên Thành ủy Việt cộng Huế, Hoàng Kim Loan, kẻ cầm đầu cuộc Tổng nổi dậy bị bắt giữ. Riêng 1500 cơ sở Việt cộng bị bắt, đã tức tốc chuyển ra Côn Sơn cô lập tại đó. Sau trận đánh Trị Thiên- Huế, chỉ trong vòng 1 tháng vào cuối tháng 6/1972, 1500 cơ sở Việt cộng này đã được phân loại và tất cả được đưa về BTL/CSQG Sàigon. Một số đã được BTL lập thủ tục truy tố ra tòa, một số khác thành phần nhẹ hơn, được trả về lại cho BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế trả tự do, nhưng đặt trong tình trạng theo dõi. Riêng Hoàng Kim Loan, theo lệnh của BTL Sàigòn, ngày 23 tháng 5/1972, giải giao y vào khối CSĐB/ BTL/CSQG Sàigòn để khai thác thêm những tin tức cần thiết, và sau đó khối CSĐB lại chuyển y qua Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia . Trung tâm thẩm vấn Quốc gia là trung tâm thẩm vấn cao nhất của Chính phủ VNCH, đặt thuộc quyền của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình báo VNCH. Trung tâm này chỉ thẩm vấn những can phạm Việt cộng, quân sự cũng như dân sự cao cấp và có tầm mức quan trọng trong lãnh vực an ninh quốc gia, trong lãnh vực tình báo chiến lược. Đội ngũ thẩm vấn viên của trung tâm này là những người ưu tú, những tinh hoa của ngành tình báo VNCH, thêm vào đó còn được trang bị những máy móc tối tân nhất của thời đại điện tử lúc đó.

***
Sau tháng 4/1975, Hoàng Kim Loan được đưa từ Côn Sơn về Sàigòn, rồi ra Hà Nội, y được Trung ương đảng đón tiếp long trọng, được gắn huy chương, được thăng cấp. Nhưng sau đó, y bị Cục Tình báo giữ lại và đã trải qua một cuộc thẩm vấn, kiểm thảo trong 4 tháng trời, sau đó được trả tự do và phục hồi chức vụ. Hai tháng sau, sau khi tham dự một bữa tiệc do Cục Tình báo khoản đãi, vài giờ sau khi trở về nhà, thì gục chết, với những vết bầm tím do độc dược. Hoàng Kim Loan đã bị cục Tình báo xử tử hình bằng chất độc, vì tội danh phản bội, khi rơi vào tay địch, đã cộng tác với địch, khai báo mọi cơ sở quan trọng của cơ quan. [Tin tức này từ Việt Nam, xin cho phép tôi miễn nêu xuất xứ nguồn tin] Về cá nhân Hoàng Kim Loan, là một người thẩm vấn Hoàng Kim Loan, tôi có những nhận xét như sau: Phải thành thật nhận rằng, Hoàng Kim Loan là một điệp viên thượng thặng, một cán bộ cộïng sản rất giỏi, thông minh, có trí nhớ rất tốt. Y đã hoạt động bí mật gần 15 năm trong lòng địch, mà không bị bại lộ. Sau năm thứ 15, cơ quan tình báo CSQG mới phát giác được, và phải mất 5 năm theo dõi, bám sát, mới bắt được Hoàng Kim Loan. Y đã tổ chức được một mạng lưới tình báo rộng lớn trong thành phố Huế, tuyên truyền lôi kéo một số thành phần trí thức, sinh viên học sinh, giới chức chính quyền VNCH tại Huế theo hàng ngũ cộng sản, xâm nhập sâu, rộng trong hàng ngũ Phật giáo miền Trung từ hạ tầng đến thượng tầng . Ngược lại, tôi vẫn khinh thường Hoàng Kim Loan, vì hắn yếu đuối trong tình cảm, dễ bị cám dỗ, nhất là trong vấn đề sắc dục. Hắn biết tôi gài vụ cô Thu Cúc cho hắn, vậy mà hắn vẫn bị dính vào. Khi tinh thần sa sút, sức khoẻ yếu kém, hắn sẵn sàng cộng tác, những hành động đó thật sự không đúng với thiên chức của một cán bộ tình báo chuyên nghiệp. Về cái chết của Hoàng Kim Loan, theo tôi, nguyên nhân chính đưa đến không phải là vấn đề khai báo và tiết lộ các cơ sở của hắn, của Cục Tình báo Chiến Lược, của Cục Quân Báo, mà nguyên nhân chính vì hắn là nhân chứng của vụ tàn sát đẫm máu đồng bào vô tội tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Chính hắn, Tống Hoàng Nguyên, Trưởng ban An ninh Quân khu Trị Thiên, Bảy Lanh trưởng ban An ninh Thành ủy Huế, nhận lệnh thi hành “Bạo lực Cách mạng” từ Lê Chưởng, Chính ủy mặt trận của Bộ tư lệnh Quân Khu Trị Thiên ra lệnh. Sau Mậu Thân, đảng Cộng sản Việt Nam chối tội, không lẽ để cho hắn sống, bởi hắn đã khai báo với chúng tôi những chuyện đó và kết luận rằng chính ông Hồ chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ra lệnh vụ tàn sát đó. Không một cá nhân, một viên chức cao cấp nào trong Đảng có quyền ra lệnh đó. Sự việc này chắc chắn trong 4 tháng trời hắn bị Cục Tình báo kiểm thảo, thế nào hắn cũng phải tiết lộ những gì hắn đã khai với chúng tôi, đó là nguyên nhân chính, mà Cục Tình báo xử tử hắn bằng chất độc. Đây chỉ là suy nghĩ của cá nhân tôi về nguyên nhân cái chết của Hoàng Kim Loan, không căn cứ và dựa vào một tài liệu nào cả. Tôi kết thúc loạt bài này đúng vào ngày 24 tháng 4 năm 2008. Chỉ còn 6 ngày nữa là 30 tháng 4, tính trọn đúng 33 năm miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản miền Bắc. Nhiều tài liệu, nhiều sách vở đã nói đến những đau thương, nhọc nhằn, tủi hận của 17 triệu dân chúng miền Nam. Kẻ ở lại, người vượt thoát ra nước ngoài, và nhất là gần một triệu Quân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hoà đã bị Việt cộng trả thù, hành hạ, thủ tiêu, trong các trại tù của cộïng sản Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng với những biến cố xảy ra tại Huế từ 1966 đến 1972 ít được đề cấp đến. Là một người, nếu nói là chứng nhân trong giai đoạn đó tại Huế thì quá lớn lao, điều đó tôi không dám nhận, nhưng ít nhất trong một khoảng thời gian dài từ 1966-1975, thời gian của những xáo trộn chính trị, của những kinh hoàng đẫm máu Mậu Thân, và của cơn biển lửa mùa hè 1972, tôi đã có mặt và trong trách nhiệm của một nhân viên công lực, trách nhiệm của một Phó Trưởng Ty Cảnh sát Đặc biệt Thừa Thiên-Huế, trong biến động miền Trung năm 1966. Phó Trưởng ty CSĐB, kiêm Quận Trưởng quận III Thị xã Huế, trong thời gian biến cố Tết Mậu Thân 1968. Và trong chức vụ Chỉ Huy Trưởng CSQG Thừa Thiên-Huế trong trận đánh mùa hè đỏ lửa 1972 . Với nhiệm vụ được giao phó : Duy trì luật pháp quốc gia, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào tại Thừa Thiên Huế, tôi đã viết lại những gì đã thấy, đã biết, đã làm, với một tấm chân tình vô tư, tôn trọng sự thật, để mai hậu, có ai muốn tìm hiểu những sự việc đã xảy ra trong giai đoạn đó tại Huế, thì ít nhất họ cũng có được một phần nhỏ nào các dữ kiện đó, với mức độ chính xác có thể chấp nhận được. Tôi quan niệm rằng, là một kẻ đã từng có trách nhiệm trong ba biến cố đã xảy ra tại Huế, đã từng trực diện với những gì đã xảy ra trong thời gian đó, đã thấy tận mắt, nghe tận tai, nếu không nói lên sự thật, đúng sự thật, tôi sẽ là một kẻ có tội đối với những người đã mất, và những người còn sống ngày hôm nay và đời sau. Công bằng và công lý phải được trân trọng trả lại cho những người là nạn nhân của 3 biến cố tại Huế từ 1963-1966. Công lý và công bằng phải được trả lại cho 5327 nạn nhân đã bị ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam ra lệnh cho đám sát nhân của họ ra tay giết hại trong Tết Mậu Thân 1968.
***
Trong thời gian gần đây bài viết của tôi đã được một số báo chí trích đăng từ Tập san BĐQ, tôi có nhận Email của một người chưa quen, Email nói rằng: ” Liên Thành đã xúc phạm hàng Giáo phẩm Phật giáo”. Thưa người chưa quen, tôi chưa bao giờ và chẳng bao giờ dám xúc phạm đến hàng Giáo Phẩm Phật Giáo. Những ông Đôn Hậu, Trí Quang, Thiện Siêu, Chánh Trực, Như Ý v.v. . . mà tôi đã nêu đích danh trong những loạt bài của tôi là những Việt cộng nằm vùng trong Phật giáo, lợi dụng Phật giáo, lợi dụng tín đồ, lợi dụng Phật tử, để thực hiện những chỉ thị, những âm mưu của Côïng sản Việt Nam đối với Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và quần chúng Phật tử thời bấy giờ. Họ hoàn toàn phục vụ cho âm mưu thôn tính miền Nam Việt Nam của cộng sản Bắc Việt . Tôi đã nêu đích danh họ, vì họ là đảng viên Cộng sản, vì họ là cơ sở Việt cộng nằm vùng của cơ quan Tình báo Chiến Lược Cộng sản Hà Nội, là cơ sở Tôn Giáo vận của cơ quan Thành ủy Việt cộng Thừa Thiên Huế, của Thành ủy viên Việt cộng Hoàng Kim Loan, vì họ lợi dụng nơi tôn nghiêm thờ phụng, chứa chấp cán bộ cộng sản, chứa chấp súng đạn, chất nổ để tấn công, sát hại dân chúng miền Nam Việt Nam. Những chuyện đó là một sự thật không thể chối cãi, cũng không thể bóp méo. Tôi đã nêu đích danh, vì sự thật đã phơi bày, đã lộ diện trong Tết Mậu Thân, khi ông Đôn Hậu giữ chức Phó chủ tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ, Dân Tộc, Hòa Bình, một tổ chức được thành lập theo chỉ thị của ông Hồ chí Minh và Bộ chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ thị đó đã được Bộ Chính trị gởi cho Trần văn Quang Tư Lệnh Mặt Trận Trị Thiên vào ngày 21/1/1968 trước trận tấn công Mậu Thân tại Huế. Khi Việt Cộng chiếm Huế, lá cờ mà bọn Việt cộng treo trên kỳ đài Ngọ Môn tại Huế vào sáng ngày mồng 2 Tết Mậu Thân không phải là cờ của bọn Mặt trận Giải phóng Miền Nam, mà là cờ của Lực lượng Liên Minh , cờ của tổ chức mà ông Đôn Hậu làm Phó chủ tịch.
Gần 10 ngàn quân Cộng sản Bắc Việt, và đám cơ sở Việt cộng phục vụ và nhân danh lá cờ đó trong 26 ngày đau thương tại Huế, bọn chúng đã giết hại biết bao nhiêu thường dân vô tội, người Email có biết không? Tôi nhắc lại : 5327 người bị giết và hơn 1200 mất tích. Tôi nêu đích danh vì ông Đôn Hậu là thành viên Mặt trận Giải Phóng miền Nam 1968. Là ủy viên Hội Đồng Cố vấn Chính phủ lâm thời Cộng Hòa miền Nam vào tháng 6/1968. Là Đại Biểu Quốc Hội khoá VI của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiõa Việt Nam. Ủy Viên, Đoàn chủ Tịch ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc. Tôi nêu đích danh Thích Thiẹân Siêu vì hắn là đảng viên cộng sản, cơ sở tối quan trọng của Hoàng Kim Loan Thành Ủy viên Việt cộng. Và sau 1975 người Email có biết Thích Thiện Siêu làm gì không?
Hắn là Đại Biểu Quốc Hội liên tiếp 3 khóa: Khóa 8, 9 và khoá 10 của Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Năm 1995, Thích Thiện Siêu là thành viên của phái đoàn quốc hội của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng với chủ tịch quốc hội là Nông Đức Mạnh [ Bây giờ năm 2008 là Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam] đi thăm một số quốc gia và thăm viếng một số Nghị viện ở Âu Châu. Năm 2000, chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao tặng Huân chương Độc Lập hạng II cho Thích Thiện Siêu. Người Email, nếu còn thắc mắc xin về Việt Nam, về Huế, để phối kiểm lại hàng giáo phẩm Phật giáo của ông. Tôi xin nói lại với ông một lần nữa: Hàng giáo phẩm Phật giáo đó là của ông và của nhà nước cộng sản Việt Nam, chứ không phải của tôi và của đa số Phật giáo đồ chân chính . Tóm lại, tôi nêu đích danh họ vì tôi có đủ bằng chứng, qua tin tức tình báo xâm nhập, qua hồ sơ tài liệu, qua cung từ của các cán bộ Việt cộng mà chúng tôi đã bắt, và qua sự thật đã phơi bày sau năm 1975. Tôi nói cho người Email biết một cách rõ ràng rằng, hàng Giáo Phẩm của tôi là: Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết. Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang. Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Là Chú của tôi, Đại lão Hoà Thượng Thích Chơn Trí. Là Anh của tôi, Đại Lão Hoà thượng Thích Chơn Kim…… Và cuối cùng hàng giáo phẩm Phật giáo của tôi và của gần 80 phần trăm các Phật tử, trong 82 triệu đồng bào Việt Nam, là các bậc chân tu trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, họ hiện đang bị đàn áp, tù đày, ngăn cấm không được hành đạo, tu hành tại Việt Nam hiện nay, chứ không phải loại Phật giáo quốc doanh do Ban Tôn Giáo của Mặt trận Tổ quốc của đảng Côïng sản Việt Nam khai sinh và nuôi dưỡng để lũng loạn Phật giáo. Như vậy cũng đã quá đủ, từ nay tôi không còn muốn tranh luận với ông nữa, người Email. Ngoài ra để sau này những ai muốn truy cập thêm những thành phần trí thức, giáo sư, sinh viên tham gia hoạt động trong cả 4 lần biến động tại Huế từ : – 1963 đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm – 1966 tranh đấu của Phật giáo miền Trung – 1968 biến cố Mậu Thân có thêm một số tư liệu, dữ kiện về bọn chúng, tôi xin sắp xếp và phân loại như sau: 1- 1963 những thành phần sinh viên tham dự vào cuộc tranh đấu cùng Phật giáo lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm: – Nguyễn Thiết, sinh viên Luật Khoa, thoát ly năm 1965. Phụ trách thanh niên Thành ủy Huế. Chủ tịch chính quyền cách mạng Quận II trong Mậu Thân, bị bắn chết vào ngày 3 Tết. – Lê Minh Trường, sinh viên Mỹ Thuật, cán bộ thuộc Thành ủy Huế. Năm 1969 bị lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế phục kích bắn chết tại làng Hải Cát Hạ, gần Điện Hòn Chén thuộc Quận Nam Hòa. – Vĩnh Kha, sinh viên Văn Khoa. Chủ tịch Tổng hội Sinh Viên Huế. Trưởng đoàn Sinh Viên Phật Tử. Đã chết năm 1980. – Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh viên Đại Học Sư Phạm Sài gòn, sau này là giáo sư Việt Văn trường Quốc Học. Thoát ly lên mật khu vào tháng 6 năm 1966. Hiện sống ở Huế và là một nhà văn. – Hoàng Phủ Ngọc Phan, sinh viên Y khoa. Thoát ly lên mật khu tháng 6/1966. hiện là nhà báo. – Nguyễn Đính, sinh viên Văn Khoa. Làm thơ bút hiệu Trần Vàng Sao. Thoát ly năm 1965. Hiện sống ở Vỹ Dạ. – Phạm Thị Xuân Quế, sinh viên Y Khoa. Sau 1975 Chủ tịch Hội phụ nữ Thành phố Huế . – Thái thị Ngọc Dư, sau này du học tại Pháp đậu Tiến sĩ Địa lý học. Giáo sư Đại Học Quốc Gia thành phố hcm Sàigòn. Đã về hưu, hiện sống tại Sàigòn -Trần Anh Tuấn, sinh viên. Du học Mỹ, đậu Tiến sĩ Luật, hiện là Luật sư tại Sàigòn. – Hoàng văn Giàu, Phụ khảo Đại học Văn khoa Huế. Đoàn trưởng đoàn sinh viên Phật tử Huế. Sau 1975 định cư tại Úc Châu. -Thái thị Kim Lan, sinh viên. Du học Đức đậu Tiến sĩ Triết Học. Hiện sống tại Đức. -Tôn Nữ Quỳnh Tư, sinh viên văn khoa, sau du học tại Pháp, đậu Tiến sĩ. – Nguyễn Đắc Xuân, sinh viên Văn Khoa, Đại học Sư Phạm. Tham gia hoạt động vào tháng 3/1963, hiện làm báo tại Sàigòn . 2- Thành phần sinh viên, học sinh tham gia tranh đấu biến động Miềân Trung 1966 : – Đặng văn Sở, sinh viên Đại học Sư Phạm Anh văn. Thoát ly năm 1968 . Hiện ở Đà Nẵng Viẹât Nam – Huỳnh Sơn Trà, sinh viên Y khoa. Thoát ly 1968. Đã chết . – Lê thanh Xuân, sinh viên Luật, thoát ly 1968. Hiện tại là nhà báo, viết cho tờ “Sàigòn Giải Phóng”, bút hiệu Hải Nam. – Nguyễn Hữu Ngô, sinh viên Mỹ Thuật, hiện sống ở Huế. Làm nghề vẽ tranh. – Hồ Cư, sinh viên văn khoa, hiện dạy học ở Đà Nẵng – Nguyễn Văn Quang, học sinh, thoát ly năm 1966, hiện là Bí thư Thành ủy Huế. – Trần Hoài, sinh viên Đại học sư phạm Việt Hán, thoát ly năm 1972. Hiện là Thường vụ Thành ủy Huế, chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc thành Phố Huế . – Tôn Thất Kỳ, sinh viên Y Khoa, Chủ tịch mặt Trận Nhân Dân tranh thủ Hòa bình. – Nguyễn Hữu Giao, sinh viên Luật Khoa. Chủ tịch Mặt trận Sinh viên tranh thủ Dân Chủ. – Nguyễn Đắc Xuân, trưởng đoàn sinh viên quyết tử, tổ chức thành 3 Đại Đội, khoảng gần 1 ngàn đoàn viên. Nguyễn Đắc Xuân thoát ly ra mật khu vào tháng 7/1966.
3- Thành Phần sinh viên học sinh tham gia cuộc tàn sát dân lành Huế trong Tết Mậu Thân 1968. – Nguyễn Đắc Xuân, người tổ chức lực lượng Nghĩa binh Cảnh Sát, Nghĩa binh Quân nhân ly khai và các đội Tự Vệ thành. – Nguyễn Đức Thuận, sinh viên Đại học Sư Phạm Anh văn . Thoát ly năm 1968. Tử trận trên đường ra mật khu. – Trần bá Chữ , sinh viên Đại học Sư phạm Toán. Thoát ly 1968. Du học Đông Đức. Hiện phục vụ trong Bộ Quốc phòng quân đội nhân dân ở Hà Nội – Lê Hữu Dũng [con Lê Hũu Tý], sinh viên đại học Sàigòn, ra Huế tham dự trận đánh Mậu Thân. 1968 thoát ly ra Bắc. Sau 1975 làm ở Đài Truyền hình Huế. – Nguyễn thị Đoan Trinh [Con Nguyễn Đoá] thoát ly ra Bắc năm 1968. Học dược tại Hà Nội, sau 1975 hành nghề tại Sàigòn. – Trương Quang Ân, học sinh. Thoát ly ra Bắc năm 1968. Hiện là Giám đốc Đài Truyền hình Huế. – Lê văn Tài, sinh viên Mỹ thuật. Thoát ly 1968, hiện là họa sĩ tại Úc Châu . – Nguyễn văn Mễ, học sinh Đệ nhất C Quốc Học.Thoát ly năm 1968. Chủ tịch Hội đồng Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên năm 2003. – Lê công Cơ, sinh viên Đại học Khoa học. Hiện là chủ tịch ban quản trị đại học Duy Tân Đà Nẵng. – Ngô Yên Thi, sinh viên Văn khoa. Thoát ly năm 1968. Ủy viên Trung ương đảng. Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Hiện là Trưởng ban Tôn Giáo Trung ương. -Bửu Chỉ, sinh viên tranh đấu 1966-1972. Thân sinh là cụ Ưng Thuyên. Cháu nội Ngài Tuy Lý Vương. Bửu Chỉ chết năm 2002 tại Huế. -Trần Phá Nhạc, sinh viên. -Thái Ngọc Sang, sinh viên. -Võ Quê, sinh viên. Cả ba sinh viên này thoát ly ra mật khu vào năm 1972 3- Về thành phần trí thức, giáo sư gồm có: – Tôn Thất Dương Kỵ, theo hồ sơ tại trung tâm Văn Khố BCH/CSQG Thừa Thiên Huế, thì Tôn Thất Dương Kỵ thuộc dòng dõi hậu duệ vị Hoàng tử thứ 13 của vua Gia Long là Từ Sơn Dương. Cư ngụ tại làng Vân Dương, xã Thủy Vân, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. 1945 làm thư ký Hội trí thức cứu quốc Thừa Thiên. 1954 dạy học ở Khải Định [Quốc Học], hoạt động bí mật từ đó. Năm 1962 bị mật vụ Đặc Nhiệm Miền Trung bắt, sau đảo chánh 1963 được trả tự do. Thành phần chủ chốt của phong trào Hoà bình và Tự quyết bị bắt – và sáng ngày 19/3/1965, tại Cầu Hiền Lương trong một buổi lễ do Tướng Nguyễn Chánh Thi chủ tọa, ba nhân vật côïng sản thuộc phong trào Hoà Bình Tự Quyết: Tôn Thất Dương Kỵ, nhà báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiến, Bác sĩ Phạm Huyến được thả ra miền Bắc theo ngã đường bộ, qua cầu Hiền Lương vĩ tuyến 17. – Tôn Thất Dương Tiềm, em Dương Kỵ, giáo sư cơ sở thành ủy Việt Cộng Huế. – Kỹ sư Nguyễn Hữu Đính, cơ sở nội thành . – Giáo sư Lê văn Hảo, con ông Lê Văn Tập. Lê văn Hảo hoạt động chung với Hoàng Phủ Ngọc Tường từ trước năm 1966. Theo tin tức của BCH Cảnh sát Thừa Thiên Huế, thì Lê Văn Hảo trong thời gian đó là người cầm đầu nhóm chủ biên, cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường, của tập san Việt Nam. Việt Nam, in và phát hành ngay tại phòng riêng của Lê văn Hảo. Bọn chúng nghĩ rằng như vậy sẽ được bảo mật kín đáo, nhưng thật ra lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế đã nắm vững tất cả nhưng không ra tay, vì cần nuôi dưỡng đi sâu và trèo cao hơn. 1968 Mậu Thân tại Huế, Lê văn Hảo kiêm nhiệm hai chức vụ: – Chủ tịch lực lượng Liên minh Dân chủ, Dân tộc, Hoà bình. – Chủ tịch chính quyền cách mạng Thừa Thiên Huế Lê văn Hảo gần đây qua đài Tiếng nói Tự do Á châu, cũng đã chối không nhúng tay vào vụ tàn sát đồng bào Huế Tết Mậu Thân. Nhưng thật ra y cũng như Tường, Xuân, Phan, bọn chúng tay đều dính máu. Hèn hạ là cả bốn đều chối. Hiện nay Lê văn Hảo đang định cư tại Pháp. Ngoài ra, trong những loạt bài tôi đã viết, mục đích là muốn nói lên những sự thật mà tôi đã biết, nhưng giữ kín bấy lâu nay, thêm vào đó, tôi muốn nhắc đến việc làm âm thầm, ít người biết của Lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia toàn quốc nói chung, và của toàn thể hơn 5 ngàn nhân viên Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế nói riêng, trong những nhiệm vụ mà họ đã được Tổ Quốc và Chính phủ giao phó. Thường thì đồng bào chỉ nhìn thấy nhiệm vụ của người Cảnh sát qua hình ảnh của những nhân viên công lộ điều hành lưu thông ngoài đường phố, qua hình ảnh của những nhân viên công lực, trong những vụ bắt bớ trộm cắp, những kẻ nghiện hút, băng đảng, để duy trì an ninh trật tự, bảo vệ đời sống an lành của đồng bào, đó chỉ là những trách nhiệm bề nổi, thuộc lực lượng Cảnh Sát sắc phục. Bề chìm âm thầm và bí mật ít người biết đến, đó là lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt. Nhiệm vụ họ là xâm nhập vào hàng ngũ địch, thu lượm tin tức, ngăn chận mọi mưu toan của địch nhắm vào sinh mạng và tài sản của đồng bào, nhắm vào phá rối an ninh đô thị, làng xóm …….. Họ là những chuyên viên tình báo chuyên nghiệp, được huấn luyện kỹ càng, chu đáo – Là những chuyên viên tình báo đúng nghĩa, nhiều trường hợp họ nằm trong lòng địch, an ninh cá nhân bị đe dọa, mạng sống nhiều khi như “chỉ mành treo chuông”, có hy sinh vì Tổ Quốc, cũng trong âm thầm, bí mật, ít ai biết đến họ. Họ là những chuyên viên xâm nhập vào mọi nơi, mọi hướng, mọi đối tượng, để khám phá kịp thời, trình về BCH của họ, để có biện pháp ngăn chận đúng lúc và hữu hiệu, những vụ gây rối chính trị, bạo loạn, do đám cán bộ côïng sản nằêm vùng giật dây, hoặc do bất kỳ phe nhóm nào chống đối chính phủ thúc đẩy . Tại Huế, từ 1966 đến 1972, ba vụ biến động lớn đã xảy ra liên quan đến an nguy của đất nước, liên quan đến sinh mạng và tài sản của đồng bào, lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt của BCH/Thừa Thiên-Huế với gần 2 ngàn nhân viên, đã hoàn thành trách nhiệm ngăn chận và phá vỡ các âm mưu của địch. Đó là biến động Miền Trung 1966, Mậu Thân 1968, và cuộc tổng tấn công của lực lượng quân sự Bắc cộng, song hành với âm mưu tổng nổi dậy tại Huế vào tháng 5/1972. Sau Mậu Thân 1968, toàn bộ cơ sở nội thành Việt cộng, trong đó có những thành phần đã từng nhúng tay vào các vụ tàn sát đồng bào Huế, đã bị lực lượng CSĐB Thừa Thiên bắt giữ, vô hiệu hoá. Mùa hè đỏ lửa 1972, trong cuộc hành quân Bình Minh, lực lượng CSĐB là thành phần nỗ lực chính của cuộc hành quân, họ đã truy bắt gần 1500 cơ sở địch, bắt sống tên Trung tá Việt cộng Hoàng Kim Loan, ngăn chận và phá vỡ cuộc tổng nổi dậy của Việt cộng và cơ sở nội thành Viêt cộng tại Huế. Tại BCH/CSQG Thừa Thiên- Huế, ngoài tôi là Sĩ quan Quân lực VNCH biệt phái, hai thành phần Cảnh sát nổi (sắc phục), và thành phần chìm (CSĐB), đều được chỉ huy bởi những Sĩ quan xuất thân từ Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, họ nắm giữ những chức vụ từ Chỉ huy phó BCH Tỉnh, Phụ Tá Đặc Biệt ngành CSĐB, Trưởng ban, Trưởng phòng, Trung Tâm HQ/Cảnh lực, Phượng Hoàng, v. v. . . Tất cả đều là những Sĩ quan thuộc thế hệ trẻ, trình độâ văn hoá cao, hầu hết nguyên là sinh viên Đại Học Huế, rời bỏ sân trường đại học, xông vào cuộc chiến, chọn ngành CSQG để phục vụ. Họ đã đem hết khả năng, trí thông minh, bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, dâng hiến cho lý tưởng và cho trách nhiệm của họ : Duy trì luật pháp quốc gia, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào Huế. Họ có quyền nhìn thẳng và hãnh diện với đồng bào Huế về nhiều thành quả mà họ đã làm cho quê hương, cho đồng bào và cho xứ Huế thân yêu của họ .
Ngoại trừ Mậu Thân 1968, khả năng bảo vệ đồng bào Huế ngoài tầm tay của họ, trong vòng 9 năm, từ 1966-1975, chưa một lần nào Việt cộng có thể đặt được chất nổ tại bất kỳ nơi đâu trong thành phố, để sát hại đồng bào. Chưa có một cuộc bạo loạn nào mà không bị họ phá vỡ. Họ là: Thiếu tá Trương Văn Vinh, Thiếu tá Trương Công Ân, Thiếu tá Dương Phước Tấn, Thiếu tá Trần Đức Túc, Thiếu tá Nguyễn Văn Ngôn, là Thiếu tá Tôn Thất Trang, Thiếu tá Nguyễn Thế Hiển, cố Thiếu tá Đoàn Đích. Là : Đại úy Phạm Bá Nhạc, Đại úy Lê Văn Phi, Đại úy Trần Văn Tý, Đại Úy Ngô Trọng Thành, Đại úy Trần Văn Trinh, Đại úy Lê Khắc Vấn, Đại úy Huỳnh Văn Thiện, Đại úy Nguyễn Văn Toàn. Đại úy Hoàng Thanh Tùng . Là : Trung úy Nguyễn Thế Thông, Trung úy Hồ Lang, Trung úy Lê Khắc Kỷ, Trung úy Văn Hữu Tuất, Thiếu úy Hoàng Công Sủng, Thiếu úy Nguyễn Thế Quang , Thiếu úy Truật . Là : 2 nữ Đại úy, 1 nữ Thiếu úy và nhiều người khác của Biệt Đội Thiên Nga, Phượng Hoàng . Là hai em ruột của tôi trong lực lượng CSĐB Liên Hướng, Liên Chi, và còn gần 100 Đại úy, Trung úy, Thiếu úy mà tôi không thể nhớ hết tên, cùng hơn 5 ngàn nhân viên CSQG. Thưa anh chị em . Nửa cuộc đời tuổi trẻ của anh chị em đã tận tụy cho lý tưởng Quốc gia, đồng bào, cho quê hương xứ sở, cho Huế. Gần nửa đời sau của tuổi trẻ các anh chị đã bị tù tội, hành hạ, tủi nhục trong các lao tù tàn bạo của cộng sản, rất nhiều đồng đội đã ra đi trong các trại tù cải tạo đó, vĩnh viễn không bao giờ gặp lại nhau. Giờ đây, các anh chị em, những người còn sống sót trong tai ương, đọa đày của kiếp tù tội, chúng ta gặp lại nhau, mái tóc đã điểm màu, tuổi đời còn lại quá ngắn, tại nơi chốn lưu lạc này, nhìn lại quãng đời đã qua, xét lại trách nhiệm và bổn phận của chúng ta, dù muốn dù không, chúng ta phải nhận lỗi là đã không hoàn tất được những trách nhiệm của chúng ta, những người chiến sĩ CSQG Việt Nam Vì vậy, xin anh chị em cùng với tôi tưởng niệm những đồng đội của chúng ta đã Vị Quốc Vong Thân và cùng với tôi hướng về quê mẹ, xin cùng nói với tôi: ”Chúng tôi, lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế, xin tạ tội và tạ lỗi với hồn thiêng sông núi, với tiền nhân và với đồng bào Huế : “Nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, chúng tôi đã tận lực, nhưng cũng không thể hoàn tất nhiệm vụ để đồng bào Huế đã bị thảm sát trong biến cố Mậu Thân 1968 và ngày nay đất nước phải điêu linh. Chúng tôi, lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế, xin cúi đầu nhận tội và xin lỗi ”. Cuối cùng, xin chép hai câu thơ của Vua Duy Tân, tỏ bày tâm sự của mình trong khi bị Pháp lưu đày tại hải đảo Réunion, gởi đến những chiến sĩ Quân lực VNCH và CSQG, những người đã dâng trọn tuổi trẻ cho quê hương Việt Nam: Tấm thân phiêu dạt quê người Linh hồn vẫn ở lại nơi quê nhà.

HẾT

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s