Đi xa nhìn về: Niềm vui ở Việt Nam và nỗi buồn ở nước Mĩ

Đi xa nhìn về: Niềm vui ở Việt Nam và nỗi buồn ở nước Mĩ (Phần I)

RFAVIETNAM
Mon, 09/19/2011 – 19:49 — ledienduc

Phạm Đình Trọng

 
 Tác giả Phạm Đình Trọng (thứ nhất từ trái qua), nhà thơ Trần Mạnh Hảo và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
trong Đại hội Nhà văn VN 2010 – Ảnh: Do tác giả cung cấp
 
 Phần I
 
1. Niềm vui ở Việt Nam và nỗi buồn ở nước Mĩ
 
Tháng tư lịch mặt trời, vẫn còn tiết xuân. Tán lá cây cơm nguội non xanh mướt dọc phố Quang Trung, Hà Nội làm xao xuyến cả mắt nhìn và rạo rực lòng người đi dưới tán cây. Hàng chò chỉ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cạnh Sở Thú Sài Gòn, thả những bông hoa có hai cánh xoay tít trong gió, bay la đà trên phố. Tôi rời sân bay Tân Sơn Nhất sát ngày ba mươi tháng tư khi cả nước rực màu đỏ của cờ, của khẩu hiệu, của affiche. Một cảnh sắc chính trị nhân tạo, sôi sục, nồng nực, chộn rộn, lấn át, khuấy động cả thiên nhiên thanh bình, êm ả!
 
Tôi đến nước Mĩ khi những cây anh đào chân đồi tượng Nữ thần Tự do ở cửa biển New York, những cây anh đào lẻ loi ở Philadelphia, hàng anh đào bên bờ sông Potomac giữa thủ đô Washington DC đang khoe sắc rực rỡ, trắng như hoa mơ chùa Hương, trắng như hoa mận Cao Bằng, tím hồng như hoa ban Điện Biên Phủ. Thời tiết ở New York phía Bắc nước Mĩ, thời tiết ở Dalas Fort Worth phía Nam nước Mĩ cũng se lạnh như tiết xuân ở Việt Nam. Lạnh vừa đủ để khoác thêm chiếc áo ấm khi bước ra khỏi nhà. Nhìn hoa anh đào nước Mĩ, tôi cứ bâng khuâng nhớ hoa mận, hoa ban quê nhà. Thiên nhiên ở đâu cũng thật thanh bình, êm ả.
 
Dù ngồi trong ô tô trên đường cao tốc giữa những làn ô tô nhấp nhô, cuồn cuộn như một dòng sông mải miết ruổi sóng, xe chạy với tốc độ 70 miles giờ (mile bằng 1,6 kilomet, 70 miles là 116 kilomet) suốt năm, sáu giờ tôi không thấy bóng một cảnh sát giao thông. Dù đi bộ trên đường phố New York, một bên là siêu thị, nhà hàng tấp nập người vào ra, một bên là dòng chuyển động bất tận của lớp lớp ô tô nối đuôi nhau, tôi không nghe thấy một tiếng ồn, không một tiếng động cơ ô tô, không một tiếng còi. Cuộc sống cuồn cuộn, hối hả trong tĩnh lặng, tuần tự của một xã hội được tổ chức chặt chẽ và đã có nề nếp.
 
Thời tiết mùa xuân, sắc hoa mùa xuân và nhịp sống náo nức mùa xuân cho tôi cảm giác bình yên, thanh thản. Nhưng một buổi chiều đến ăn cơm ở nhà hàng Việt Nam trong khu thương mại Eden của người Việt ở thị trấn Fall Church ngoại ô Washington DC, tôi lại gặp không khí chính trị nhân tạo sôi sục ở Việt Nam!
 
Ngày ba mươi tháng tư, ngày kết thúc cuộc chiến tranh được một phía gọi là chống Mĩ cứu nước nhưng thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam. Ngày ba mươi tháng tư lại đến! Cả nước Việt Nam lại rầm rộ, ồn ào, hoan hỉ mừng chiến thắng thì ở thị trấn tĩnh lặng ngoại ô thủ đô Washington nước Mĩ, những người Việt Nam ở phía chiến bại phải tha hương lại ngậm ngùi làm lễ tưởng niệm những đồng đội cùng chiến hào đã bỏ mạng trong cuộc chiến tương tàn đó! Tôi lại nhớ đến câu của người lãnh đạo nhà nước Việt Nam cộng sản, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Ngày ba mươi tháng tư có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn! Nhưng đâu phải chỉ có những người ở phía chiến bại mới có Nỗi – buồn – ba – mươi – tháng – tư! Mĩ đổ quân vào miền Nam Việt Nam làm cho cuộc chiến tranh có sức giục giã, thôi thúc rất lớn đối với tuổi trẻ miền Bắc. Người con trai duy nhất của Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng Lê Quý Quỳnh tình nguyện nhập ngũ ra ngay mặt trận và anh đã hi sinh ở mặt trận Tây Nguyên. Ngày cả nước tưng bừng mừng chiến thắng ba mươi tháng tư, người mẹ liệt sĩ ấy nhìn pháo hoa sáng rực trời lại nhớ đến nỗi đau mất đứa con trai duy nhất, bà đã ngất xỉu rồi ít ngày sau bà cũng đi theo con trai! Những người từng trải và mẫn cảm đều hiểu rằng ngày ba mươi tháng tư chỉ có niềm vui ở cờ, hoa, ở khẩu hiệu, ở không khí chính trị nhân tạo! Còn nỗi buồn lặn vào từng gia đình, lặn vào từng số phận đã đi qua cuộc chiến tương tàn! Với những người phải tức tưởi bỏ nước ra đi vì sự kiện ba mươi tháng tư đó thì nỗi buồn còn lớn lao, sâu xa đến thế nào! Tôi đã đi từ niềm vui của những lá cờ rợp trên dải đất Việt Nam đến nỗi buồn thăm thẳm lắng sâu ở tận nước Mĩ!
 
2. Buổi sáng ở Philadelphia
 
Dặm đường nước Mĩ cho tôi nhận ra rằng, so với nhiều nước trên thế giới, lịch sử hơn hai trăm năm dựng nước của người Mĩ còn quá mỏng và nước Mĩ mênh mông nhưng thiên nhiên khá đơn điệu! Vì thế người Mĩ rất chăm chút giữ gìn, nâng niu lịch sử. Thời gian lịch sử không dày thì người Mĩ gom góp, vun đắp cho không gian lịch sử dày dặn lên. Từng con người lịch sử, từng sự kiện lịch sử đều có chỗ đứng trong không gian, có mặt trong thời gian và làm nên sự thăm thẳm của đời sống tâm linh nước Mĩ. Tạo hóa không sáng tạo cho nước Mĩ mênh mông nhiều cảnh sắc thiên nhiên kì diệu thì người Mĩ thay tạo hóa sáng tạo ra sự kì diệu đó. Bằng tài năng, trí tuệ và niềm tự hào Mĩ, người Mĩ đã sáng tạo nên sự lung linh, hoành tráng của thiên nhiên thứ hai, bổ khuyết cho sự đơn điệu của thiên nhiên thứ nhất do đất trời tạo ra.
 
Trung tâm chính trị ở thủ đô Washington DC bên dòng sông Potomac trong xanh như một công viên mênh mông mà dòng sông hiền hòa, thảm cỏ và rừng cây là chủ thể. Nhà Quốc hội trên đồi Capiton, nhà Trắng giữa cây xanh và những tòa nhà giầu tính nghệ thuật như tòa nhà bộ Tài chính là những tác phẩm kiến trúc điểm xuyết vào màu xanh thiên nhiên. Trong bát ngát cây xanh đó là đài tưởng niệm Washington, đài tưởng niệm Jefferson, đài tưởng niệm Lincohn, đài tưởng niệm Theodor Roosevelt, đài tưởng niệm Franklin Roosevelt, đài tưởng niệm Martin Lutherking, đài tưởng niệm Lindon B. Johnson… Tất cả những cung điện, đền đài của lịch sử, của chính trị thủ đô nước Mĩ như đều soi bóng xuống dòng sông Potomac trong xanh.
 
Đi trên cầu Arlington nhìn xuống mặt sông Potomac lấp lánh nắng như một mặt gương, nhìn khối nhà xám năm góc đồ sộ im lìm cạnh sông, tôi cứ ngậm ngùi nhớ đến một lương tri nước Mĩ, anh Norman Morison và tôi lại nhớ đến câu hát mà ca sĩ lừng danh Trần Khánh hát ngày nào: Hoa Thịnh Đốn chiều nay bỗng bùng lên cháy đỏ / Cháy từ thân thể anh Morison… Morison đã đến bên sông Potomac trước cổng tòa nhà Năm góc đốt mình lên thành ngọn đuốc phản đối chính phủ Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam. Phản đối cuộc chiến tranh mang chết chóc, tai họa cho nước Mĩ, ngọn lửa Morison là ngọn lửa của lương tri nước Mĩ, của lịch sử nước Mĩ mà nơi ngọn lửa ấy cháy lên không có một dấu ấn ghi nhận! Hay có mà tôi không biết?
 
Cánh rừng rộng lớn phía bên trái dòng sông Potomac là khu tưởng niệm ba cuộc chiến tranh thế giới mà nước Mĩ đã tham chiến: Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến tranh Korea. Chiến tranh Việt Nam. Khu tưởng niệm chiến tranh Việt Nam rộng lớn nhất, nội dung phong phú nhất và cũng gợi nhiều suy nghĩ bùi ngùi nhất. Tên tuổi hơn năm mươi tám ngàn lính Mĩ chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam được khắc chìm trên tấm bia đá hoa cương đen nguyên khối dài 75 mét, cao hơn hai mét và được in trong tập sách dày đặt trên giá bên lối đi, trước tấm bia. Mặt trước tấm bia đá là tên những người lính xấu số. Mặt sau bia là gò đất dài xanh mướt cỏ mùa xuân như một nấm mồ lớn. Những trang sách ghi tên người lính Mĩ chết trận ở Việt Nam dù được bọc nilông cũng đã nhàu nhĩ, sờn cong vì đã có hàng triệu lượt người lật giở tìm tên người thân. Tên những người lính Mĩ khắc trên bia đá kia, in trong tập sách dày kia còn mãi với thời gian, còn mãi với lịch sử nước Mĩ, còn mãi trong lòng nước Mĩ, còn mãi trong tình yêu của lớp lớp thế hệ con cháu họ. Nhiều người xương cốt còn nằm lại đâu đó trong lòng đất Việt Nam nhưng tên của họ đã trở về khắc vào lòng nước Mĩ.
 
Tôi có người cậu ruột, em trai thứ ba của mẹ tôi, là bộ đội Vệ Quốc Đoàn đã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp, cậu Nguyễn Bá Thứ. Bà ngoại tôi đã nhận được tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi nhưng đến những trận bom đánh phá miền Bắc của không quân Mĩ, bà ngoại tôi phải rời thành phố đi sơ tán. Thành phố có ngôi nhà của bà ngoại tôi bị đánh bom. Tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi không còn nữa! Đến nay nắm xương tàn của cậu tôi không biết vùi ở nơi đâu và cũng không có tấm bia nào ghi tên cậu! Cậu Thứ ơi, thôi cháu đành ghi tên cậu trong bài viết về tấm bia liệt sĩ cũa nước Mĩ vậy!
 
Tên thành phố Philadelphia của nước Mĩ cũng giống như tên vùng đất Lâm Thao, Phú Thọ của Việt Nam vì Philadelphia chính là thủ đô dựng nước của nước Mĩ giống như Lâm Thao là thủ đô dựng nước của Việt Nam. Thủ đô thời dựng nước của Việt Nam nay chỉ còn ngôi đền thờ Vua Hùng quanh năm hương khói, chỉ còn truyền thuyết về chín mươi chín ngọn núi là đàn voi chín mươi chín con chầu về đền Hùng. Chỉ có chín mươi chín con voi thôi vì một con quay đi hướng khác có ý phản nghịch liền bị Vua Hùng chém đầu, nay máu voi còn chảy là dòng suối ở chân núi! Chỉ còn cái tên Thậm Thình của một làng quê bên đền Hùng, nơi có tiếng chày thậm thình giã gạo từ thời Vua Hùng. Tiếng chày giã gạo của Lang Liêu làm bánh chưng, bánh dày dâng lên Vua Hùng. Ở Philadelphia còn cả không gian lịch sử, còn cả không khí lịch sử, hơi thở lịch sử, còn cả viên gạch đỏ, phiến đá xanh mang hơi ấm lịch sử thời dựng lên nước Mĩ.
 
Không gian lịch sử là tòa nhà chính quyền bang Pennsylvania được xây dựng từ năm 1732, đến năm 1776 sôi động trở thành nhà làm việc của năm thành viên trong hội đồng soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ và ngày 6.7.1776, George Washington, một trong năm thành viên đó đã đứng trên vỉa hè trước tòa nhà hướng ra dân chúng đông đúc trên bãi cỏ rộng bên kia đường đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Mĩ. Ba năm sau, Washington được người dân bầu làm Tổng thống Mĩ đầu tiên. Tòa nhà lịch sử được xây bằng những viên gạch đỏ từ năm 1732 nay vẫn đỏ thắm giữa ngàn xanh cổ thụ và được gọi là dinh Độc lập, Independence hall. Nay Washington vẫn đứng nơi ông đã đi vào lịch sử, không lễ đài chót vót, không khoảng cách với người dân, tượng đồng Washington đứng ngay trên hè đường trước dinh Độc lập. Đoạn đường trước mặt ông vẫn lát những phiến đá xanh cổ mà tuổi những phiến đá đó chắc chắn còn cao hơn tuổi nước Mĩ. Bên kia đường trước mặt ông vẫn là thảm cỏ rộng, nơi những người dân Mĩ đã đứng ngây ngất hít thở không khí tự do thiêng liêng đầu tiên, sung sướng uống từng lời Tuyên ngôn Độc lập rồi vươn vai đứng thẳng người lên làm công dân nước Mĩ độc lập. Hơi thở lịch sử là tiếng ngựa hí, là tiếng vó ngựa lóc cóc trên con đường lát đá phiến kéo cỗ xe bốn bánh cổ kính. Khách du lịch bỏ ra mười dollars sẽ được lên xe đi một vòng trên những đường phố yên tĩnh, vắng vẻ, ngắm nhìn thành phố Philadelphia vừa cổ kính vừa hiện đại. Không khí lịch sử là hàng người nối dài trên con đường xi măng cuối bãi cỏ rồi từng đợt, từng đợt được đón vào tòa nhà Liberty Bell chiêm ngưỡng quả chuông cùng tuổi với Tuyên ngôn Độc lập, cùng tuổi với nước Mĩ đã gióng lên tiếng chuông tự do gọi những chính khách đầu tiên của nước Mĩ đến dinh Độc lập biên soạn ra các văn kiện lịch sử định hình lên nước Mĩ, gọi dân chúng Philadelphia thay mặt cho người dân mười ba bang đầu tiên của nước Mĩ đến dinh Độc lập tham dự vào những sự kiện lịch sử buổi lập nước.
 
Trong những vật chứng lịch sử Mĩ ở đây: Tượng đồng Washington, Dinh Độc lập, Quả chuông Tự do, Liberty Bell, tôi đánh giá cao nhất những ngọn cỏ bình dị đã xanh từ trong thăm thẳm lịch sử nước Mĩ đến hôm nay và còn xanh mãi đến mai sau. Phải có ý thức dân tộc cao, phải biết trân trọng lịch sử đất nước lắm mới biết nâng niu giữ gìn từng ngọn cỏ lịch sử. Hơn hai trăm năm rầm rộ, hối hả công nghiệp hóa, đô thị hóa mà giữa thành phố Philadelphia vẫn còn lại bãi cỏ từ ngày Độc lập năm 1776! Chỉ mấy ngọn cỏ bình dị kia cũng nói được tầm văn hóa và tấm lòng với nước, với dân của một chính quyền! Tôi lại xót xa nhớ đến những chứng tích hùng hồn của lịch sử và những tài sản vô giá của văn hóa Việt Nam đã bị những quyền lực giai cấp, bị những nghị quyết thiển cận đập phá, xóa bỏ. Phá đàn Nam Giao ở cố đô Huế! Xóa sổ hội trường Ba Đình ở thủ đô Hà Nội! Tượng đá nàng Tô Thị ôm con ngóng chồng ở Lạng Sơn bị cho vào lò nung vôi! Những viên gạch mộc của thế kỉ mười sáu xây nên thành nhà Mạc cổ kính ở Tuyên Quang bị đập bỏ để xây lại bằng vật liệu hào nhoáng của thế kỉ hai mươi!…
 
Với tầm văn hóa đó của quyền lực, những giá trị lịch sử, văn hóa Việt Nam sẽ còn tiếp tục bị đập phá! Rồi những gì sẽ bị phá bỏ nữa? Tôi rùng mình kinh hoàng! Để xóa đi nỗi buồn, tôi đi dạo trên con đường vắng bao quanh tòa nhà Độc lập. Ngắm những viên đá xanh lát trên đường, ngắm màu gạch đỏ trên tường nhà, nhìn những tia nắng sớm chiếu qua vòm lá như rắc hoa trắng lung linh trên đường, nghe ngọn gió cổ xưa rì rào trên vòm đại thụ, tôi tưởng như đang đi trong buổi bình minh của nước Mĩ.
 
3. Kỳ quan Mĩ
 
Lịch sử Mĩ do những trái tim người Mĩ yêu tự do viết lên. Cảnh quan nước Mĩ hôm nay cũng do những người Mĩ tự do đó xây cất lên. Bàn tay tạo hóa không tạo cho nước Mĩ những kì quan thiên nhiên, những kiệt tác của Trời thì bàn tay người Mĩ, trí tuệ người Mĩ đã thay tạo hóa làm nên những kì quan Mĩ, những kiệt tác Mĩ.
 
Kì quan Mĩ là những tòa nhà tháp nâng con người lên với trăng sao. Đất nước gần mười triệu cây số vuông trải rộng từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, dân số chỉ nhỉnh trên ba trăm triệu người, mật độ dân số chỉ hơn ba mươi người sống trên một cây số vuông. Trong khi con số đó ở Việt Nam là gần ba trăm người, ở Trung Hoa là một trăm năm mươi người. Đất đai bằng phẳng, rộng rãi, dân cư thưa thoáng, vậy mà người Mĩ vẫn sáng tạo ra những tòa nhà chọc trời. Những tòa tháp kính lấp lánh như khối kim cương sừng sững vươn lên trời xanh về ban ngày. Những tòa tháp ánh sáng lung linh trong thăm thẳm vũ trụ về ban đêm. Không phải vì nước Mĩ thiếu đất, những tòa tháp đó mọc lên để tạo ra kì quan Mĩ, mang tầm vóc, tư thế nước Mĩ, mang triết lí làm chủ của tư duy Mĩ!
 
Kiến trúc Hy Lạp – La Mã cổ đại với những cột tròn cao vút uy nghi. Kiến trúc Pháp có cùng triết lí với kiến trúc cổ điển Việt Nam: Coi trọng thiên nhiên, hài hòa với thiên nhiên, thiên nhiên tham gia vào kiến trúc, là một phần không thể thiếu của kiến trúc, đường nét kiến trúc uyển chuyển, duyên dáng, tinh tế của tiết tấu cuộc sống thong thả, chậm rãi. Những tòa nhà tháp chế ngư thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên ở các thành phố Mĩ là phong cách kiến trúc của những con người tự do, được giải phóng khỏi mọi ràng buộc, vươn vai đứng thẳng lên làm chủ vận mệnh, làm chủ thời đại, một thời đại của tốc độ cao, của tiết tấu cuộc sống công nghiệp gấp gáp, dồn dập, vì thế đường nét, hình khối kiến trúc cũng đơn giản nhất, thanh thoát, mạch lạc, dứt khoát. Những tòa tháp mang triết lí làm chủ của tư duy Mĩ, mang tâm hồn tự do Mĩ, mang í chí chinh phục Mĩ đã tạo ra không gian Mĩ, cảnh quan Mĩ, nhịp sống Mĩ.
 
Khi phần lớn những ngôi nhà ở châu Á, châu Phi nông nghiệp còn là tường đất, mái lá, con người vẫn còn phải ẩn trong đất, núp trong cây, châu Âu công nghiệp vẫn còn say sưa với kiến trúc dựa vào sắt thép trần trụi, say sưa dựng lên những tòa tháp ngạo nghễ sắt thép như tháp Eiffel ở Paris, cất năm 1889, những cây cầu trập trùng sắt thép như cầu Long Biên ở Hà Nội mà người Pháp gọi là cầu Doumer cất lên năm 1899 thì nước Mĩ đã đi đầu cất lên những building, những tòa tháp bê tông chất ngất. Tòa thị chính thành phố Milwaukee 30 tầng cao 107 mét xây năm 1895. Tòa nhà Park Row ở New York 30 tầng cao 119 mét xây năm 1899. Tòa tháp Singer ở New York, 47 tầng cao 187 mét xây năm 1908… còn bền vững đến hôm nay. Người từ khắp nơi trên thế giới đến tòa tháp đôi World Trade Center, WTC, Trung tâm Thương mai Thế giới ở New York, 110 tầng, cao 417 mét không phải chỉ để mua sắm những mặt hàng cao cấp nổi tiếng thế giới mà còn để chiêm ngưỡng kì quan Mĩ, ngắm nhìn không gian Mĩ, hít thở không khí Mĩ, cảm nhận nhịp đập cuộc sống Mĩ. Ngày 11.9.2001, Bin Laden đánh sập tòa tháp đôi WTC. Mười năm sau tôi đến New York đi ngang qua công trường xây dựng lại WTC chỉ thấy nghễu nghện những cần cẩu, ngổn ngang những khối máy mà rất ít bóng người và tòa tháp đã lên tầng thứ sáu.
 
Kì quan Mĩ là hòn đảo Nữ thần Tự do ở cửa biển New York mà người từ mọi miền trái đất tìm đến đây còn đông hơn cả số người đổ về Trung tâm Thương mại Thế giới. Dù tượng Nữ thần Tự do không phải là sáng tạo của người Mĩ. Tượng là tác phẩm của Kiến trúc sư Frederic Bartholdi, người Pháp, là quà tặng của nước Pháp tặng nước Mĩ, quà của những người mang lí tưởng Nhân quyền và Dân quyền tặng những người mang lí tưởng Tự do. Tượng đã trở thành phần hữu cơ của hòn đảo ở cửa biến New York, là phần hưu cơ của núi sông biển trời nước Mĩ. Cả hòn đảo Tự do, tên cũ là đảo Bedloe, là tác phẩm nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa sự sáng tạo của tự nhiên và sự sáng tạo của con người. Để đặt tượng Nữ thần Tự do cao bốn mươi sáu mét, trí tuệ và bàn tay người Mĩ đã biến hòn đảo nhỏ như còn trôi dạt, còn biến đổi hình dạng trước sóng gió biển lớn phía Tây trái đất thành hòn đảo rộng rãi, vững chãi, thành một địa chỉ văn hóa của loài người. Thiên nhiên sáng tạo cho nước Mĩ biển trời lộng lẫy ở cửa biển New York, lại sáng tạo cho nước Mĩ hòn đảo nhỏ trần trụi như tòa nhà mới xây xong phần thô giữa nơi biển trời lộng lẫy đó để người Mĩ tiếp tục sáng tạo, biến ngôi nhà thô thành tòa lâu đài nguy nga. Tượng Nữ thần Tự do giơ cao ngọn đuốc soi sáng thế giới đặt ở nơi biển trời lộng lẫy như cõi thiên thai mà loài người vẫn ước vọng, vẫn khắc khoải hướng tới.
 
Mười lăm phút một chuyến phà đầy ắp người tách bến New York sang đảo Tự do. Tôi nhìn dòng người đủ màu da, từng cặp, từng tốp chân bước lâng lâng trên hòn đảo Tự do nhưng tôi biết cảm nhận về tự do của mỗi người sẽ rất khác nhau. Những cô gái da trắng, da đen ríu rít đi theo đoàn của một trường trung học Mĩ kia, họ chẳng cần bận tâm về tự do, vì với họ tự do là lẽ đương nhiên, bình thường của xã hội họ đang sống. Thời ông bà họ phải đấu tranh đổ máu giành tự do đã lùi xa mấy trăm năm rồi. Nhưng hai thanh niên người Trung Hoa có vẻ là sinh viên du học đang đứng lặng ngắm nhìn tượng Nữ thần Tự do kia, sao vẻ mặt họ bần thần thế? Có phải nhìn tượng Nữ thần Tự do họ lại nhớ đến sự kiện cách đây chưa lâu: Sinh viên Bắc Kinh biểu tình ở Thiên An Môn đòi tự do dân chủ bị xe tăng quân đội tràn qua, nghiến nát nhiều sinh viên? Tôi nhận ra chim biển ở đây nhiều quá. Chúng bay rợp trên trời. Nhiều con đậu thành hàng dài trên bờ kè đá mép đảo. Tôi đã đứng giữa đàn chim biển ở đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam ở Thái Bình Dương. Ngày ấy tôi đi với đơn vị hải quân đổ bộ lên giữ đảo. Lũ chim biển nhìn những con người lần đầu tiên xuất hiện trên đảo với vẻ bình thản, thân thiện, lính đứng gác, chim xà xuống đậu trên mũ lính. Nhưng khi mỗi con chim biển trở thành hai, ba cân thịt tươi trong bữa ăn kham khổ hàng ngày của lính đảo thì từ đó lũ chim biển hoang sơ nhìn thấy bóng con người đều hốt hoảng, tránh xa! Tượng Nữ thần Tự do khánh thành ngày 28 tháng mười, năm 1886. Từ đó hơn một thế kỉ đã trôi qua, ngày nào trên đảo cũng nườm nượp người như lễ hội mà bây giờ tôi đến sát mấy con chim biển đứng mép kè đá, chúng vẫn bình thản nhìn tôi thân thiện. Ở đây có cả luật pháp của nhà nước và tập quán của người dân bảo vệ những con chim biển hoang sơ, bảo vệ cuộc sống tự do mưu sinh của chúng nên chúng mới có phong thái ung dung, tự tin, bình đẳng với con người đến thế! Nhìn những con chim biển được sống tự do, hòa thuận bên những con người xa lạ, tôi lại chạnh nhớ đến cuộc sống mất tự do của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ trong ngục tù Hà Nội. Bao giờ người dân Việt Nam mới được pháp luật bảo vệ như những con chim biển ở hòn đảo Tự do này nhỉ?
 
Kì quan Mĩ là hệ thống giao thông chiếm lĩnh cả chiều rộng và chiều cao không gian. Có tới năm, bảy con đường bê tông xi măng song song cạnh nhau cùng một hướng. Mỗi con đường lại có hàng chục làn ô tô cuồn cuộn chảy. Nơi những con đường giao nhau, mặt phẳng nằm ngang chuyển thành mặt phẳng thẳng đứng. Năm, bảy con đường thành năm, bảy tầng cầu vượt. Mỗi con đường như một dải lụa bị gió thổi tung lên, uốn lượn, đan xen vào nhau. Nơi có đường giao nhau kì vĩ nhất thế giới là ở thành phố Houston bang Texas. Mười con đường, mười dải lụa mềm mại uốn lượn lồng vào nhau, uyển chuyển, thướt tha như một màn múa, nhịp nhàng, dìu dặt như một giai điệu âm nhạc.
 
Các điểm du lịch kì thú nhất ở Việt Nam đều là các kì quan thiên nhiên. Sa Pa. Tam Đảo. Vịnh Hạ Long. Chùa Hương. Tam Cốc. Bích Động. Sầm Sơn. Phong Nha Kẻ Bàng. Non nước Hải Vân. Kênh rạch miền Tây Nam Bộ…
 
Ngược lại, làm nên sức hấp dẫn của nước Mĩ với thế giới đều là những kì quan do con người tạo ra. Tạo ra bằng trí tuệ Mĩ. Tạo ra bằng tiền thuế của người dân Mĩ nên người dân Mĩ đều có ý thức làm chủ các kì quan đó và mỗi kì quan đều có một chủ thể có trách nhiệm trước dân Mĩ và có tầm văn hóa tương xứng với giá trị văn hóa mà họ là chủ thể nên kì quan trước hết được khai thác ở giá trị văn hóa. Mỗi ngày có cả chục ngàn khách đến đảo Nữ thần Tự do nhưng ở đó không có một mẩu giấy, một bịch ni lông rác thải, không có một hàng chữ lạc lõng của những kẻ văn hóa thấp lại muốn lưu tên tuổi vào thời gian cùng kì quan! Không có một âm thanh của con người phá mất âm thanh dào dạt, mênh mang của thiên nhiên. Ở những kì quan Mĩ chỉ có nườm nượp khách viếng thăm và sự lặng lẽ, tất bật, tận tụy của những người phục vụ khách. Hoàn toàn không có những thành phần ăn theo. Không có người bán hàng rong! Không có người đeo bám, chèo kéo khách mua đồ lưu niệm! Không có một tiếng loa, một bảng hiệu. Không một bóng người ăn xin. Ở Mĩ không phải không có người ăn xin. Một tối muộn, vừa từ nhà hàng trên tòa tháp quay ở Dalas bước ra phố, tôi thấy người đàn bà da đen cao gày như mốt người mẫu một thời, bên sườn chiếc túi du lịch nhưng dáng đi vật vờ đến đứng lại trước con gái tôi. Bà ta hỏi xin tiền con gái tôi. Người ăn xin trong đêm tối, trong âm thầm, trong đơn lẻ, không kéo đàn kéo lũ, không bày biện, phô trương sự khốn cùng, không trơ tráo đeo bám!
 
Ngành du lịch ở ta ăn sẵn kì quan thiên nhiên. Coi kì quan của đất nước là của chùa, mọi ngành, mọi người xúm vào khai thác kì quan, kinh doanh kì quan, ăn theo kì quan chỉ vì giá trị vật chất của ngành, của cá nhân, không vì giá trị văn hóa của đất nước. Mỗi kì quan đều là một giá trị văn hóa. Không có chủ thể có tầm văn hóa tương xứng để quản lí, bảo vệ, khai thác giá trị văn hóa của kì quan, các kì quan thiên nhiên ở ta đều bị thương mại hóa, dung tục hóa, đều bị xâm hại, tàn phá nghiêm trọng và bị những thẩm mĩ thô thiển tùy tiện can thiệp, xây cất thêm làm cho méo mó, biến dạng, làm mất vẻ đẹp nguyên sơ của kì quan thiên nhiên! Nếu tầm văn hóa là ở bằng cấp, học hàm, học vị thì có lẽ công chức Việt Nam có tầm văn hóa cao nhất thế giới! Nhưng cứ nhìn vào việc quản lí các hoạt động văn hóa và quản lí các công trình văn hóa ở ta thì mới thấy tầm văn hóa ở những nhà quản lí đó thảm hại đến thế nào ■
 
Sài gòn 9/2011
 
Phần II 

 

Đi xa nhìn về: Lá cờ Việt Nam trên đất Mĩ và những mảnh hồn Việt (Phần kết)

Tue, 09/20/2011 – 17:38 — ledienduc

 
Phạm Đình Trọng
 
 
 Tác giả Phạm Đình Trọng (thứ nhất từ trái qua), nhà thơ Trần Mạnh Hảo và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
tại Đại hội Nhà văn VN 2010 – Ảnh: Tác giả cung cấp
 
 
Phần II (Tiếp theo Phần I  và hết)
 
 4. Lá cờ Việt Nam trên đất Mĩ
 
Mansfield là thành phố vệ tinh của Dalas, một trung tâm dân cư đông đúc của bang Texas và của nước Mĩ. Mansfieldcity, thành phố Mansfield, nhưng nhà cửa khá thưa thớt, không khí yên tĩnh như một thị trấn khuất nẻo ở ta. Nhà kiểu biệt thự, nhà nọ cách nhà kia cả chục mét. Mỗi nhà là một thế giới khép kín. Những con đường bê tông xi măng rộng rãi. Vỉa hè sát mép đường là một dải hẹp láng xi măng cho người đi bộ, còn lại là thảm có rộng, rồi đến những ngôi nhà một lầu hoặc chỉ có trệt. Những ngôi nhà cách biệt nhau bằng một thảm cỏ và một bờ cây xanh hoặc bức tường gỗ mỏng mảnh. Diện tích mặt bằng ngôi nhà hơn hai trăm mét vuông chỉ chiếm một phần mười diện tích mảnh đất thuộc ngôi nhà. Ngôi biệt thự xinh xắn giữa thảm cỏ và cây xanh thoáng rộng với hơn hai ngàn mét vuông đất đó giá bán ở Mansfield là gần hai trăm ngàn dollars, tính ra tiền Việt là gần bốn tỉ đồng Việt Nam, rẻ hơn giá nhà đất đô thị ở Việt Nam. So sánh giá đất đô thị ở Mĩ với Việt Nam lại phải nêu vài so sánh khác. Hàng hóa ở Mĩ, hàng công nghiệp như ô tô, laptop, máy ảnh, hàng điện tử… đều rẻ hơn ở Việt Nam. Hàng nông sản thực phẩm thì tương đương hoặc nhỉnh hơn giá ở Việt Nam chút ít. Một gallon sữa tươi, 3,78 lít, giá 4,92 dollars. Túi gạo Thái Lan 25 pound, gần 12 kg, giá từ 15 đến 20 dollars, tùy loại gạo. Một pound bắp cải, 0,45 kg, giá 0,6 dollars…
 
Giá dịch vụ thì vô cùng cao. Gửi trẻ 30 dollars một ngày. Cắt tóc 30 dollars. Cắt tóc ở tiệm của người Việt rẻ hơn cũng phải 10 dollars. Xén lông cho chó cảnh một con 50 dollars. Một mũi tiêm phòng dịch cho chó 50 dollars… Giá trị lao động cũng rất cao. Công lao động đơn giản thấp nhất là 8 dollars giờ. Như vậy lương tháng của một lao động đơn giản cũng gần hai ngàn dollars. Lương tháng của nhân viên hành chính trên năm ngàn dollars… Nhà cửa đó, giá sinh hoạt đó, đồng lương đó: Đời sống Mĩ đó!
 
Giá trị lao động cao nên người Mexico vượt biên sang Mĩ bán sức lao động rất đông. Những siêu thị nối tiếp nhau dọc con đường lớn ở trung tâm thành phố Houston. Bên trong siêu thị bày bán hàng hóa được sản xuất từ hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới. Sản phẩm may mặc đến từ Guatemala, Nicaragua, Egypt, Gordan, India, Bangladesh, Philippines, Indonesia, Malaysia, Cambodia, Việt Nam… Sản phẩm lương thực, thực phẩm: Gạo Thái Lan. Cá Việt Nam. Bí đỏ Ấn Độ. Xoài Mexico. Dừa Costa Rica. Táo Chile. Cà phê Brazil. Chuối Guatemala…
 
Nhiều nhất, tràn ngập trong các siêu thị Mĩ là hàng hóa đến từ Trung Hoa. Từ những sản phẩm công nghệ cao như máy vi tính, máy ảnh, đồ điện tử, đến những sản phẩm tầm tầm: quần áo, giầy dép, vali, túi xách, đồ gốm sứ, đồ gỗ, đồ nhựa, cả đến những món hàng lưu niệm bé xíu cũng là sản phẩm Trung Hoa. Bên ngoài siêu thị là những người đàn ông Mexico lố nhố từng tốp đứng ngồi dưới bóng cây, trên hè đường bày bán mặt hàng cơ bắp, như chợ cơ bắp ở Giảng Võ, Hà Nội.
 
Những ngày ở Mansfield, buổi sáng tôi đều đi bộ một vòng qua những đường phố vắng vẻ, tĩnh lặng, lộng gió và se lạnh. Một buổi sáng tôi thấy trên thảm cỏ bên đường lác đác có những chiếc cọc mang tấm bìa viết hàng chữ Garage Sale hoặc Yard Sale. Trong garage ô tô, trên mảnh sân cạnh ngôi nhà có cắm tấm bìa đó người ta mang đồ cũ không dùng đến ra bày bán. Quần áo. Giầy dép. Đồ gốm sứ. Đồ điện tử. Bộ đồ câu cá… thượng vàng hạ cám, đủ cả. Có những thứ như chiếc áo lông thú, bộ váy áo, đôi giầy da cao cổ của phụ nữ nếu mua mới lúc đang là mốt thời thượng phải vài trăm đến cả ngàn dollars, bây giờ đã lạc mốt ở đây chỉ ghi giá vài chục dollars. Sáng thứ sáu hàng tuần người ta bán đồ sale trong sân nhà. Còn sáng thứ hai và thứ năm thì hè đường trước nhà nào cũng có một thùng nhựa lớn đựng rác đợi đội thu gom rác đến đổ lên ô tô. Trong những thùng rác đó tôi thấy có cả chiếc quạt máy còn nguyên vẹn, đầy đủ các chi tiết, những bộ quần áo còn khá mới và nhiều đồ dùng trong gia đình còn tốt.
 
Bà cô tôi sống ở đây có lần ôn lại thuở cơ hàn mới sang Mĩ có nhắc đến chuyện những sáng thứ hai, thứ năm phải đi lượm những đồ người ta bỏ đi ở thùng rác về dùng lại. Chú là thiếu tá quân đội Sài Gòn. Sau năm 1975, trong thời gian chú phải ở trại tập trung, cô phải bán nhà đi lấy tiền nuôi bốn đứa con. Chú ở trại tập trung về, cô sinh thêm đứa con thứ năm. Không nhà cửa! Không việc làm! Năm đứa con nheo nhóc, đứa nào học cũng giỏi nhưng nhìn tấm gương con của những người phải đi trại tập trung đều không được vào đại học, không có được chỗ đứng đàng hoàng trong xã hội thì biết rằng con cái cũng không có ngày mai! Cuộc sống đang bế tắc thì chính sách xã hội của nước Mĩ đón những người Việt Nam có hoàn cảnh như gia đình cô chú sang định cư ở Mĩ đã mở cho cô chú lối thoát.
 
Cô chú và năm đứa con sang Mĩ với hai bàn tay trắng. Bây giờ năm đứa con của cô chú đều đã tách ra ở riêng. Người ở thành phố Mansfield, người ở thành phố Grand Prairie, đều là thành phố vệ tinh của Dalas. Mỗi người đều có một ngôi nhà xinh xắn giữa thảm cỏ và cây xanh trên mảnh đất còn rộng hơn đất của bố mẹ. Sang Mĩ, hai con đầu đã lớn, không vào trường Mĩ được. Ba đứa con sau vào học trường Mĩ bây giờ là ba bác sĩ đều mở phòng mạch riêng. Có người có đến bốn phòng mạch. Ngôi nhà hơn hai trăm mét vuông, có bốn phòng ngủ bây giờ chỉ còn cô chú. Hai vợ chồng già. Một tòa nhà rộng tĩnh lặng. Một chiếc ô tô du lịch số miles chạy chưa nhiều nên xe còn rất mới. Đó là gia cảnh chung của tất cả những bậc làm cha mẹ ở Mĩ mà con cái đã trưởng thành. Cuộc sống đầy đủ. Không phải bận tâm về con cái. Thời gian thư nhàn rộng dài dành cả cho nỗi khắc khoải hướng về đất nước. Năm nào năm đứa con cũng dồn tiền để cô chú về Việt Nam một chuyến, mang thuốc men và tiền đến các chùa làm từ thiện, phát thuốc và tặng tiền cho người nghèo.
 
Trong số gần ba triệu người Việt Nam đang sống ở Mĩ có lẽ phải đến cả triệu người đến Mĩ trong hoàn cảnh như cô chú tôi. Dù sự ra đi đó có mở ra một lối thoát tốt đẹp, đưa đến một cuộc sống dễ chịu, mang lại tương lai sáng sủa cho con cháu thì vẫn là sự ra đi bất đắc dĩ! Ở lại với đất nước không có đường sống, không được nhìn nhận, không được đối xử bình đẳng thì đành phải ra đi!
 
Đô đốc Trần Văn Chơn của hải quân quân đội Việt Nam Cộng hòa về hưu chưa được một năm thì sự kiện ba mươi tháng tư năm 1975 xảy ra. Vào những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa, Đô đốc Elmo Zum Walt Jr, tư lệnh hải quân Mĩ tại Việt Nam điều một chuyến máy bay vận tải lớn C130 từ Philippines đến sân bay Tân Sơn Nhất đón cả gia đình Đô đốc Chơn di tản nhưng Đô đốc Chơn từ chối ra đi. Đất nước đã hòa bình thống nhất, người Việt không còn chia chiến tuyến bắn giết nhau nữa, việc gì phải ra đi! Người cha già yếu như ngọn đèn sắp tắt đã chọn mảnh đất quê để về với tổ tiên. Ở lại để được sống với đất nước thanh bình. Ở lại để được sống bên người cha như chiếc lá sắp rụng về cội.
 
Nếu những người cộng sản chiến thắng đã thu giang sơn về một mối thực sự có cái tầm của người làm chủ giang sơn rộng lớn, thực sự xứng đáng với vị trí đại diện cho dân tộc Việt Nam thì phải có tấm lòng bao dung của người Mẹ Việt Nam mở rộng vòng tay đón vào lòng những gia đình như cô chú tôi, như Đô đốc Trần Văn Chơn để hàn gắn lại nỗi đau chia rẽ dân tộc mà cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc tương tàn vừa qua đã gây ra. Nhưng những người cộng sản chiến thắng trong cuộc chiến đã không có được nghĩa cả của người chiến thắng, không có được tấm lòng của người Mẹ Việt Nam, không có được tư thế, tầm vóc lớn lao mà nhà nước của cả dân tộc Việt Nam phải có, không có được cái nhân nghĩa Việt Nam mà cha ông để lại: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân!
 
Nhà nước Việt Nam thống nhất của những người cộng sản vẫn chỉ là nhà nước của một giai cấp bần hàn, lấy đấu tranh giai cấp để tồn tại, vẫn đố kị, nhỏ nhen, chật chội, sắt máu trong ý thức hệ giai cấp phản dân tộc! Nhà nước nhân danh dân tộc nhưng lại lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc! Hàng loạt trại tập trung cải tạo thực chất là trại hận thù dân tộc, chia rẽ dân tộc mọc lên để giam cầm những người Việt Nam không cùng ý thức hệ giai cấp!
 
Chú tôi phải ở trại bảy năm! Đô đốc Trần Văn Chơn phải ở trại mười ba năm! Cha chết, ông cũng không được về làm phận hiếu với người cha! Thực tế đó cho những người như Đô đốc Trần Văn Chơn phải nhận ra rằng đất nước Việt Nam thân yêu không còn của cả dân tộc Việt Nam nữa rồi! Đất nước Việt Nam hôm nay chỉ còn là sở hữu của một giai cấp, giai cấp vô sản! Nhưng giai cấp vô sản lại chỉ là một khái niệm ảo, không có thật! Điều có thật là một nhóm người nhân danh giai cấp vô sản đã chiếm đoạt đất nước Việt Nam! Ra khỏi trại tập trung, Đô đốc Trần Văn Chơn phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi!
 
Trong trái tim những người phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi như vậy, lá cờ đỏ sao vàng của nhà nước Việt Nam cộng sản chỉ là lá cờ của nhóm người đang cầm quyền, không phải là lá cờ của dân tộc Việt Nam, lá cờ của đố kị, chật chội, hẹp hòi, lá cờ của hận thù giai cấp, chia rẽ dân tộc, lá cờ của đấu tố man rợ, của tù đày nghiệt ngã, lá cờ chà đạp đạo lí yêu thương Việt Nam, hủy hoại văn hóa nhân nghĩa Việt Nam, không thể là lá cờ của dân tộc Việt Nam!
 
Vì thế hầu hết các gia đình Việt Nam ở Mĩ đều cắm ở phòng khách, ở phòng làm việc hoặc ở góc riêng tư hai lá cờ: Lá cờ Mĩ, đất nước đã cưu mang họ và lá cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Người ta vẫn phải trương lá cờ của một chính thể không còn tồn tại chỉ để phủ nhận lá cờ của chính thể đang tồn tại nhưng là lá cờ hận thù giai cấp, chia rẽ dân tộc! Màu cờ vàng đã trở thành màu dân tộc, màu Tổ quốc, màu tập hợp của cộng đồng người Việt Nam ở Mĩ! Cuộc tập hợp càng lớn, màu cờ vàng càng rợp trời! Đây là hậu quả hiển nhiên của nhà nước nhân danh dân tộc nhưng không có tấm lòng bao dung dân tộc! Là câu trả lời của một bộ phận máu thịt dân tộc bị ruồng bỏ, bị phân biệt đối xử. Một mẩu bánh mì vẫn là bánh mì! Dù chỉ là một bộ phận nhỏ bé, thất thế của dân tộc Việt Nam, họ vẫn là dân tộc Việt Nam, họ phải có lá cờ tập hợp bộ phận nhỏ bé bị ruồng bỏ đó! Không thể chấp nhận lá cờ đỏ đã tù đày, phân biệt, loại bỏ họ, họ phải dùng lại lá cờ của quá khứ chia rẽ dân tộc, lá cờ vàng!
 
Kiên trì, bạo liệt thực hiện đấu tranh giai cấp sắt máu với dân tộc Việt Nam, chính những người cộng sản cực đoan ngộ độc học thuyết đấu tranh giai cấp, lấy giai cấp thống trị dân tộc đã làm cho lá cờ vàng ba sọc đỏ của chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên còn bền bỉ tồn tại đến hôm nay! Kiên trì, bạo liệt thực hiện đấu tranh giai cấp sắt máu với dân tộc Việt Nam, chính những người cộng sản Việt Nam đã làm cho lá cờ của khởi nghĩa Nam Kỳ, lá cờ của cách mạng Tháng Tám không còn là lá cờ của cả dân tộc Việt Nam nữa!
 
Và một vấn đề nghiêm túc, lớn lao, khẩn thiết đang đặt ra: Đã đến lúc cần có lá cờ tập hợp cả dân tộc Việt Nam! Không thể là lá cờ đỏ nhỏ nhen của một giai cấp, lá cờ lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc! Không thể là lá cờ vàng vốn xuất xứ là lá cờ của một nhà nước chỉ là công cụ của nước ngoài! Cần có lá cờ mới mẻ, tinh khôi của cả dân tộc Việt Nam, của chín mươi triệu người Việt Nam đang sống trên đất nước Việt Nam thống nhất và đang sống trên khắp thế giới! Lá cờ xanh màu rừng, xanh màu biển, xanh màu đồng ruộng Việt Nam và sáng chói tinh thần yêu nước Nguyễn Thái Học!
 
Tôi đã dự lễ tốt nghiệp của đứa em ở trường đại học Houston và dự lễ tốt nghiệp của con gái tôi ở trường University of Texas Arlington. Cả hai trường đều có rất nhiều sinh viên nước ngoài đến học và đông nhất là sinh viên đến từ châu Á: Trung Hoa, Hàn Quốc, Ấn Độ,  Pakistan, Iran, Việt Nam… Sân khấu buổi lễ tốt nghiệp khá đơn giản nhưng buổi lễ diễn ra rất trang trọng. Những người thầy dìu dắt khóa sinh viên tốt nghiệp được mời lên ngồi những hàng ghế trên sân khấu. Trên tấm màn nhung phía sau họ chỉ có hình lớn logo nhà trường. Lá cờ nước Mĩ được cắm ở phía trước, cạnh sân khấu. Chỗ đó, ở các sân khấu của ta là nơi treo tấm pano chữ lớn trích lời vàng của lãnh tụ cộng sản hoặc lời ngọc của nghị quyết đảng! Con gái tôi nói rằng trước đây nước nào có sinh viên tốt nghiệp đều có lá cờ nước đó cắm thành hàng cùng lá cờ nước Mĩ và lá cờ đỏ sao vàng đã từng cắm cạnh lá cờ Mĩ. Nhưng từ khi có những sinh viên người Mĩ gốc Việt là con cái của những người đã phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi, quyết liệt phản đối lá cờ đỏ sao vàng và đòi nhà trường cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ! Nhà trường không thể trương lá cờ của một nhà nước không còn tồn tại nhưng cũng phải dung hòa đòi hỏi quyết liệt của rất đông sinh viên gốc Việt, không cắm lá cờ đỏ sao vàng! Từ đó, trong những lễ tốt nghiệp của nhà trường chỉ có một lá cờ Mĩ, không có cờ nước nào nữa! Tôi thầm cảm ơn sự ứng xử rất tinh tế, rất nhân văn của các trường đại học Mĩ. Nếu họ vẫn cắm cờ các nước có sinh viên tốt nghiệp, chỉ không cắm cờ Việt Nam thì con gái tôi sẽ trở thành bơ vơ, không có Tổ quốc! Sự hẹp hòi, chật chội, đố kị giai cấp của học thuyết đấu tranh giai cấp, sự nhẫn tâm, bạo liệt của nhà nước lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc đã gây hậu quả chia rẽ, li tán dân tộc xa rộng đến như vậy đó!
 
Đáng buồn, đáng căm giận là đến nay sự nhỏ nhen, hẹp hòi, chật chội vẫn đang khoét sâu hố chia rẽ, li tán dân tộc! Ở Mĩ, tôi đã được chính người trong cuộc kể cho nghe sự nhỏ nhen, chật chội đó. Ông L.H. là sĩ quan quân đội Sài Gòn được nước Mĩ mở lòng đón sang định cư. Cuộc sống thư nhàn, ông L.H. có thú vui là đi ngắm nhìn cuộc sống đang diễn ra ở mọi góc trời trên thế giới. Hơn mười năm nay, mỗi năm ông đều đến một nước. Đến chuyến du lịch thứ mười hai, ông mới về Việt Nam. Nhưng vừa về đến sân bây Tân Sơn Nhất ông liền bị an ninh sân bay mời vào phòng làm việc. Họ báo không cho ông nhập cảnh vì ông đã có hành động chống đất nước! Ông L.H. ngơ ngác không hiểu ông đã làm gì nên tội? Viên an ninh liền nghiêm giọng kể tội ông: Ông L.H.! Ở bên Mĩ ông đã giật lá cờ của đất nước Việt Nam ném xuống đất thì ông còn về đất nước Việt Nam, về với lá cờ đó làm gì nữa? A, ông L.H. chợt nhớ ra! Việc cỏn con đó xảy ra đã lâu mà ở đây vẫn để bụng để bây giờ tính sổ thì khiếp quá! Nhưng ông đâu có làm việc đó! Sự trùng tên làm cho họ tóm nhầm người rồi! Người làm việc đó cũng có tên là L.H. và cũng ở Texas. Với ông, mọi việc đã an bài, con đường chính trị của ông đã kết thúc từ khi ông sang Mĩ và ông tránh xa mọi chuyện liên quan đến chính trị! Nhưng ông có biết việc mà an ninh Việt Nam vừa nhắc đến. Hôm đó trung tâm thương mại của người Việt ở thành phố ông sinh sống đón phái đoàn từ trong nước sang đến thăm nên nơi đón tiếp phải căng lá cờ đỏ sao vàng. Ông L.H. kia chỉ là khách ghé vào mua sắm ở trung tâm thương mại nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng liền xông đến giật lá cờ ném xuống đất. Đó là việc không hay, không đẹp nhưng cũng chỉ là chuyện sinh hoạt, chuyện tình cảm thường tình của con người, không phải là chuyện quốc gia đại sự, càng không phải là chuyện an ninh quốc gia! Ở phương diện quốc gia không thể nhỏ nhen chấp nhặt những chuyện vặt như vậy!
 
Ông L.H. kia dù trong tình cảm với nhà nước Việt Nam đương quyền có nông nổi cực đoan thì cũng chỉ là chuyện tình cảm nhất thời của một cá nhân với một thể chế. Đất nước mỗi thời một thể chế. Mỗi thể chế lại theo đuổi một học thuyết xã hội. Cuộc sống không thể chỉ có một học thuyết xã hội. Dù thể chế đương quyền có tuyệt đối hóa một học thuyết, ngăn cấm, bưng bít các học thuyết khác thì cuộc sống vẫn tồn tại nhiều học thuyết xã hội! Không phải tất cả người dân đều chấp nhận học thuyết chính thống và chấp nhận thể chế đương quyền của học thuyết chính thống đó! Khác biệt ý thức hệ là điều đương nhiên, bình thường của cuộc sống, xã hội nào cũng có sự khác biệt đó! Không thể bắt cả xã hội khuôn vào một ý thức hệ! Một thể chế đang làm chủ đất nước, đang đại diện cho dân tộc phải có tầm rộng lớn của đất nước để dung nạp chấp nhận mọi người dân với mọi khuynh hướng tư tưởng sống trên đất nước rộng lớn đó, phải có tấm lòng bao dung của dân tộc, nơi hướng về, nơi hội tụ mọi thân phận có chung cội rễ dân tộc đang sống ở mọi phương trời!
 
Dù không chấp nhận thể chế đương quyền, ông L.H. kia vẫn là người con của dân tộc Việt Nam, là đứa con lưu lạc của người Mẹ Việt Nam! Nếu thể chế đương quyền thực sự đại diện cho dân tộc Việt Nam phải có tấm lòng bao dung của người Mẹ Việt Nam, không thể chối bỏ bất kì đứa con nào lưu lạc trở về! Sự chối bỏ nhỏ nhen, hẹp hòi đó là từ bỏ tư cách làm chủ đất nước, từ bỏ tư thế đại diện cho cả dân tộc, thể chế đó không xứng tầm với đất nước Việt Nam rộng lớn yêu thương, không xứng tầm với dân tộc Việt Nam sâu nặng nhân nghĩa! Sự chấp nhặt nhỏ nhen của an ninh sân bay Tân Sơn Nhất còn tố cáo đội quân đông đúc của an ninh Việt Nam, có mặt trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Mĩ và đội quân đông đúc tiêu tốn tiền thuế của dân đó đã gây chia rẽ, nghi ngờ, đố kị sâu sắc trong cộng đồng người Việt xa nước!
 
Ông L.H. giật lá cờ đỏ sao vàng ném xuống đất ở Fort Worth, Texas, Mĩ, mà an ninh Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhất cũng biết là vì có Việt cộng nằm vùng trong cộng đồng người Việt ở Mĩ! Cũng vì Việt cộng nằm vùng mà một bà ở Miami bang Florida, Mĩ, vừa về Việt Nam thăm quê hôm trước thì hôm sau bà bị công an xã gọi lên nhắc nhở vì ở Mĩ bà đã nói rằng sang Mĩ bà mới được tự do đi nhà thờ, ở Việt Nam bà đâu có được đi lễ!
 
Việt cộng nằm vùng như một bóng ma trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt ở Mĩ! Người nọ nghi ngờ, đề phòng người kia là Việt cộng nằm vùng! Trong tình cảm ghét ai, trong làm ăn muốn triệt đối thủ cạnh tranh nào chỉ cần gán cho họ là bóng ma Việt cộng nằm vùng là đủ làm hại họ!
 
Cụm từ “Việt cộng nằm vùng” có từ trong cuộc chiến tranh hận thù dân tộc, người Việt truy giết người Việt! Bộ máy cảnh sát, mật vụ Việt Nam Cộng hòa ngày đêm lùng sục Việt cộng nằm vùng trên khắp miền Nam nhưng cụm từ “Việt cộng nằm vùng’ cũng không được nhắc đến nhiều như ngày nay được nhắc đến trong lời nói, trong sách báo của cộng đồng người Việt ở Mĩ! Nước Mĩ tự do, dân chủ cho người ta được sống thật, được bộc lộ hết mình nhưng người Việt ở Mĩ khi ở giữa cộng đồng người Việt vẫn phải co lại, giấu mình đi, có khi lại phải lên gân chống cộng để khỏi bị nghi ngờ là Việt cộng nằm vùng!
 
Đấu tranh giai cấp đã làm bùng nổ cuộc nội chiến Nam – Bắc khốc liệt, đẫm máu, gây chia rẽ, đối kháng trong lòng dân tộc Việt Nam, gây li tán trong các gia đình Việt Nam! Đấu tranh giai cấp lại dựng lên những trại tập trung khắc nghiệt kéo dài hàng chục năm sau chiến tranh, lại làm sâu sắc thêm nỗi đau chia rẽ dân tộc, li tán lòng người!
 
Nhà Trần cướp ngôi vua nhà Lý, chỉ có vài chục người trong gia đình hoàng tộc nhà Lý phải bỏ nước trốn chạy. Ngày nay hàng triệu người Việt của cả trăm họ phải bỏ nước trốn chạy cuộc đấu tranh giai cấp bạo liệt của những người cộng sản! Phiêu dạt đến cùng trời cuối đất mà họ vẫn chưa được buông tha, vẫn bị rình rập, đố kị! Những người lãnh đạo cộng sản vẫn nói về hòa giải, hòa hợp dân tộc nhưng cho đến tận hôm nay, cuộc chiến kết thúc đã gần bốn mươi năm, hận thù giai cấp còn truy đuổi dân tộc Việt Nam ráo riết như vậy thì bao giờ mới có hòa hợp dân tộc?
 
5. Những mảnh hồn Việt
 
Năm 1959, những người cộng sản tại chỗ, những Việt cộng nằm vùng đã lãnh đạo người dân miền núi Trà Bồng, Quảng Ngãi cầm vũ khí nổi dậy chống lại chính quyền nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Nhưng phải đến cuộc vũ trang nổi dậy đầu năm 1960 ở Mỏ Cày, Bến Tre giữa vựa lúa đồng bằng Nam Bộ do người cộng sản được tin cậy, chờ đợi, nữ bí thư tỉnh ủy Nguyễn Thị Định lãnh đạo thì những người lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội mới thực sự tin rằng những người cộng sản nằm vùng ở lại miền Nam đã nhóm lên được ngọn lửa chiến tranh rồi! Những người cộng sản không muốn bị coi là người phát động chiến tranh nên từ Chiến tranh thường được chuyển thành “Đấu tranh vũ trang” và ngọn lửa bùng nổ chiến tranh ở Mỏ Cày, Bến Tre được gọi là ngọn lửa đấu tranh vũ trang!
 
Đang được những người lãnh đạo cộng sản nóng lòng mong đợi nên ngọn lửa đấu tranh vũ trang ở Bến Tre được phong tên Thánh là Ngọn Lửa Đồng Khởi! Có ngọn lửa khởi sự rồi, đã đến lúc phải thổi bùng ngọn lửa đó lên khắp miền Nam! Cuối năm 1960, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam tổ chức ra Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, thành lập quân đội Giải phóng miền Nam Việt Nam! Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam, cuộc chiến tranh ý thức hệ thực sự nổ ra từ đó, năm 1960!
 
Trước mốc bùng nổ cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam 99 năm, năm 1861, nước Mĩ cũng nổ ra cuộc chiến tranh Nam – Bắc và cũng là cuộc chiến tranh ý thức xã hội.
 
Miền Bắc nước Mĩ có nền công nghiệp phát triển. Những con người của nền sản xuất công nghiệp mang tinh thần Dân chủ của Tuyên ngôn Độc lập nước Mĩ, mang tư tưởng Tự do – Bình đẳng của cách mạng tư sản châu Âu. Nền sản xuất công nghiệp cũng đòi hỏi phải có những con người tự do, những con người được làm chủ cuộc đời của họ. Trong hoàn cảnh lịch sử đó, ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Liên bang Mĩ Abraham Lincohn liền tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ. Miền Nam nước Mĩ của những chủ đất cần sử dụng nô lệ như những công cụ sản xuất, cần trói chặt nô lệ vào đất đai trang trại. Vì thế chính quyền các bang miền Nam của các chủ đất liền tuyên bố li khai khỏi chính quyền liên bang. Bảy bang miền Nam, sau tăng lên mười một bang liên minh lập Chính phủ riêng, quân đội riêng của Liên bang miền Nam và ngày 12.4.1861 quân đội miền Nam li khai nổ súng đánh đồn Sumter ở Charleston bang South Carolina thuộc liên bang miền Bắc, mở đầu cuộc nội chiến Nam – Bắc Mĩ đẫm máu. Thời đó vũ khí còn rất thô sơ, còn phải sử dụng súng thần công và cuộc chiến chỉ kéo dài bốn năm mà đã giết chết gần một triệu người Mĩ, bằng ba phần trăm dân số Mĩ, hai mươi chín triệu người lúc đó.
 
Bị động lôi kéo vào cuộc chiến nhưng với nền sản xuất cao hơn, với lí tưởng nhân đạo giải phóng nô lệ hợp lòng người, thuận thời đại, miền Bắc đã chiến thắng. Chiến thắng đó càng xứng đáng, lớn lao, cao cả khi tư lệnh quân chiến thắng cấm không cho những người lính miền Bắc reo hò, bắn súng mừng chiến thắng vì sự vui mừng ồn ào đó sẽ khoét sâu thêm nỗi buồn thầm lặng của những người Mĩ ở miền Nam. Người Mĩ có lương tâm không thể vui trên nỗi buồn của một nửa nước Mĩ! Không thể vui trên nỗi buồn của những người cùng dân tộc, cùng Tổ quốc với mình!
 
Nước Mĩ có rất nhiều ngày lễ: Ngày của Cha. Ngày của Mẹ. Ngày Gia đình. Ngày Nhớ ơn những người lính chết trận… Nhưng không có ngày Chiến thắng của cuộc nội chiến Nam – Bắc Mĩ!
 
Chiến thắng đó càng cao cả và những người chiến thắng càng lớn lao khi tư lệnh quân chiến thắng khẳng định không coi những người lính miền Nam thua trận là thù địch, là phản nước! Nước Mĩ của tất cả người dân Mĩ chứ nước Mĩ không phải chỉ của người thắng trong cuộc nội chiến tương tàn! Không có người lính miền Nam nào bị bắt giam, tù đày, dù chỉ một ngày! Tất cả đều được mang theo ngựa, lừa và cả vũ khí cá nhân về nhà làm ăn sinh sống! Vị tư lệnh đội quân chiến thắng đó đã thực sự mang tấm lòng bao dung rộng lớn của người Mẹ nước Mĩ ôm những người con lầm lạc ở miền Nam nước Mĩ vào lòng, xóa đi nỗi đau chia rẽ Nam – Bắc Mĩ mà cuộc chiến Nam – Bắc đã gây ra!
 
Ngôn ngữ Mĩ không có từ “Đồng bào”, cùng một bọc, để chỉ những người dân Mĩ. Người châu Âu di cư sang Mĩ. Người nô lệ châu Phi bị bán sang Mĩ. Người từ bốn phương trời tìm đến mảnh đất hoang sơ nước Mĩ cùng với ít ỏi người da Đỏ đã sinh sống từ xa xưa ở đây làm nên dân tộc Mĩ. Một tập hợp của những con người có cội nguồn khác nhau, có văn hóa khác biệt như vậy mà người miền Bắc nước Mĩ không thể vui trên nỗi buồn của người miền Nam nước Mĩ!
 
Không dân tộc nào trên thế giới có từ “Đồng bào”, cùng một bọc, để chỉ người cùng một nước như dân tộc Việt Nam. Từ thơ bé, người Việt Nam nào cũng thuộc câu chuyện bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ. Truyền thuyết của tổ tiên người Việt Nam dạy con cháu rằng nửa triệu người Việt Nam thời Vua Hùng dựng nước, hai mươi nhăm triệu người Việt Nam thời Pháp đô hộ, chín mươi triệu người Việt Nam đang sống trên dải đất Việt Nam và đang có mặt trên khắp thế giới hôm nay, hơn một trăm triệu người Việt Nam ngày mai đều có cội nguồn từ bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ. Lịch sử văn hóa dạy người Việt Nam rằng dù người Việt sống trên núi cao Hoàng Liên Sơn hay người Việt sống trên những cồn cát dằng dặc ven biển miền Trung, Dù người Việt sống ở kênh rạch miệt vườn Nam Bộ hay người Việt đang phiêu dạt xứ người đều vừa là người chủ sáng tạo ra nền văn minh sông Hồng, vừa là con đẻ của nền văn minh đó. Những con người cùng một bọc sinh ra, cùng một nền văn minh sông Hồng mà suốt mấy chục năm qua, từ khi có đảng cộng sản, trước đây là đảng Cộng sản Đông Dương, nay là đảng Cộng sản Việt Nam, cứ mê mải bắn giết nhau, đấu tố, thanh trừng, loại bỏ nhau, rồi hà khắc, lạnh lùng giam cầm, đày đọa nhau, lại âm thầm, rình mò, xét nét, đố kị nhau! Chính quyền nào thực hiện những điều đó với người dân Việt Nam là chính quyền phản dân tộc Việt Nam, một chính quyền nhỏ nhen, hẹp hòi, tàn bạo, không tương xứng với văn hóa, đạo lí Việt Nam! Khi một chính quyền làm chủ đất nước Việt Nam thống nhất rộng dài mà tấm lòng hẹp hòi không bao dung được cả dân tộc Việt Nam thì dân tộc Việt Nam còn tan tác, li tán, không thể lớn mạnh được!
 
Cuộc nội chiến Nam – Bắc Mĩ kết thúc ngày 9.4.1865. Ngay ngày hôm đó, những người lính miền Nam thua trận được cấp lương thực trở về nhà làm ăn. Ngay ngày hôm đó, xung đột Nam – Bắc Mĩ, hận thù chia rẽ dân tộc Mĩ do cuộc nội chiến gây ra được giải quyết dứt điểm để người dân Mĩ chỉ còn tập trung tài trí, sức lực xây dựng nước Mĩ, nhanh chóng đưa nước Mĩ thành nước giàu mạnh đứng đầu thế giới!
 
Sau cuộc chiến tranh người Việt giết người Việt, vì sự sắt máu của những người chiến thắng với những người chiến bại và với cả dân tộc Việt Nam, hơn năm triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi! Gần ba triệu người Việt đến Mĩ sau năm 1975! Sau năm 1975, số người Việt tìm đến châu Âu là hơn một triệu! Nửa triệu người bỏ xác trên biển! Những người Việt phải tức tưởi bỏ nước ra đi đều đau đáu mong có ngày được trở về mảnh đất cội nguồn! Cuộc chiến tranh tương tàn lùi vào quá khứ đã gần bốn mươi năm mà nhiều người vẫn không thể về! Có người vừa đặt chân xuống đất Mẹ Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhất đang còn rưng rưng xúc động liền bị buộc phải quay trở lại, rời khỏi Việt Nam tức khắc như giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, như nhà báo Ca Dao!
 
Ở Dalas tôi may mắn được gặp nhạc sĩ Phan Đình Minh quê Nam Định. Năm 1954, mới chín tuổi anh theo gia đình di cư vào miền Nam rồi thành sĩ quan lái máy bay lên thẳng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cuối tháng tư năm 1975 anh lái máy bay đưa cả gia đình ra tàu chiến Mĩ ngoài biển Đông. Ba mươi sáu năm qua anh vẫn mong được một lần về mảnh đất đã cho anh cái hồn Việt Nam. Ở Mĩ, nhạc sĩ Phan Đình Minh phụ trách chương trinh phát thanh Từ Cánh Đồng Mây nói về khát vọng tự do dân chủ của người Việt Nam nên anh biết rằng việc làm của anh khó được nhà nước Việt Nam cho anh trở về!
 
Một buổi tối ở Houston, tình cờ tôi được gặp nhà báo Lê Diễn Đức. Anh Lê Diễn Đức quê Văn Giang, Hưng Yên, sang Ba Lan học từ thời chiến tranh, về nước, rồi quay lại Ba Lan năm 1989 và từ đó định cư ở Ba Lan, một đất nước đã chia tay chủ nghĩa xã hội mất tính người. Anh không thể trở về với quê hương hiện còn bị chủ nghĩa xã hội tước đoạt quyền tự do dân chủ của người dân. Là nhà báo ở đất nước tự do dân chủ rộng mở, các bài viết của anh đều là sự đồng cảm, chia sẻ nhiệt thành với tiếng nói đòi tự do, dân chủ ở trong nước. Anh Lê Diễn Đức có ba đứa con sống ở Mĩ, còn những người thân yêu ruột thịt khác đều ở Việt Nam. Đường bay Ba Lan – Mĩ xa lắc anh đi lại như con thoi, nhưng đường bay Ba Lan -Việt Nam gần gũi hơn thì anh không thể đi về!
 
Mỗi người Việt Nam xa nước đều mang một mảnh hồn Việt Nam ra đi. Mỗi mảnh hồn đó đều có nỗi khắc khoải được trở về với cội nguồn dân tộc. Nhưng nhiều mảnh hồn Việt Nam không được nhà nước giai cấp ở Việt Nam cho trở về với dân tộc! Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Mĩ kết thúc, vấn đề tinh thần, tình cảm dân tộc do cuộc chiến tranh để lại, người Mĩ giải quyết gọn trong một ngày! Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam kết thúc đã ba mươi sáu năm mà tình cảm dân tộc Việt Nam vẫn còn bị chia cắt, nát vụn ra từng mảnh! Ôi dân tộc Việt Nam đau thương của tôi còn li tán đến bao giờ? ■
 
Sài Gòn 9/20111
————————————————————-
* Lê Diễn Đức : Tác giả của bài viết là nhà văn, nhà báo, đại tá Phạm Đình Trọng hiện đang sống tại Sài Gòn. Ông sinh năm 1944 tại Hải Phòng, đã có gần 30 năm làm ký giả của báo Quân đội Nhân dân, hơn 10 năm làm Trưởng Ban Đại diện báo Quân đội nhân dân tại Sài Gòn. Vào tháng 11/2009, trước khi tròn 40 năm tuổi Đảng, ông Phạm Đình Trọng đã tự tuyên bố rút ra khỏi Đảng. Một số tác phẩm văn học của ông đã xuất bản gồm: “Rừng và biển” (1981), “Một sự nổi tiếng” (1987), “Sự tích đảo” (1993), “Cuộc gặp gỡ muộn màng” (1994), “Ve ve nói chẳng thèm nghe” (1995), “Niềm vui lớn của mẹ” (2004), “Một thuở’” (2008)…
 
———
Tác giả Phạm Đình Trọng gửi cho tôi bài này mong được chia sẻ vơi bạn đọc của RFA những cảm nghĩ của ông từ chuyến đi Mĩ vừa qua. Bài được chia làm 2 phần:  phần I và phần II.
 
 
 
 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s