Tiếng Ai Oán Cho Việt Nam

Tiếng Ai Oán Cho Việt Nam

Đoàn Văn Toại

(Hồ Bất Thủy dịch từ bản tiếng Anh A Lament for Vietnam đã được đăng trên tạp chí The New York Time)

Khi Cộng sản nắm lấy miền Bắc ViệtNamnăm 1954, hằng triệu người tị nạn đã lũ lượt di tản vàoNam. Cá nhân tôi đã nghe nhiều chuyện về nỗi đau khổ tột cùng của họ. Thế nhưng, cũng như những người miềnNamkhác, tôi không muốn tin vào những câu chuyện đó. Một thế hệ sau, tôi cũng không thể tin vào tác phẩm “Quần Đảo Ngục Tù” (The Gulag Archipelago) của nhà văn Solzhenitsyn. Tôi cho đó là lối tuyên truyền chống Cộng. Nhưng khoảng năm 1979, tôi đã xuất bản tác phẩm riêng của mình, “Ngục Tù ViệtNam”. Những ai đã từng chịu sự khiếp hãi chế độ Cộng sản có thể nào thuyết phục nổi những người chưa từng trải qua chuyện đó được hay không?

Kể từ năm 1945, lúc tôi sinh ra ở huyện Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long, cách phía nam Sài-gòn 160Km, cho đến khi tôi rời Việt Nam vào tháng Năm, 1978, tôi chưa bao giờ được an hưởng hòa bình. Nhà của gia đình tôi bị đốt ba lần trong kháng chiến chống Pháp. Để tránh binh đao, cha mẹ tôi phải di chuyển từ làng này tới làng khác trong suốt thời niên thiếu của tôi. Cũng giống đa số người Việt yêu nước khác, họ gia nhập lực lượng kháng chiến chống Pháp. Khi tôi trưởng thành, bản thân tôi đã nhìn thấy người nông dân bị chính quyền địa phương của chế độ Sài-gòn áp bức ra sao, họ đã trở thành nạn nhân của những cuộc oanh kích của Pháp như thế nào. Tôi đã học được lịch sử đấu tranh ngàn năm của đất nước mình chống sự xâm lăng của Tầu và nỗ lực hằng thế kỷ của đất nước chống sự đô hộ của giặc Tây. Với nền tảng như vậy, tôi và đồng bào tôi đã lớn lên với lòng căm ghét sự can thiệp của ngoại bang.

Khi sinh viên Đại học Sài-gòn bầu tôi làm phó chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài-gòn vào năm 1969 và1970, tôi đã tham gia vào những cuộc đấu tranh đòi hòa bình khác nhau, dẫn dắt những cuộc xuống đường của sinh viên chống chế độ Thiệu và chống sự dính líu của Mỹ. Tôi đã xuất bản một tập san có tên Tự Quyết, và vào tháng Giêng năm 1971, tôi đã sang California để diễn thuyết phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford. Vì những hoạt động của mình, tôi bị Chính quyền Thiệu bắt giam nhiều lần.

Trong giai đoạn đó, tôi đã tin rằng mình đang thực thi cam kết đòi hòa bình và độc lập cho đất nước. Tôi cũng vững tin vào chương trình của Mặt trận Giải phóng Dân tộc (MTGPDT), một tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét nhà cầm quyền Sài-gòn, những người như Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Đặng Văn Quang – những cựu chiến binh của quân đội thực dân Pháp. Những người này đã được Pháp tuyển mộ vào những năm 1940 nhằm giúp tiêu diệt cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Họ đã ngoi lên qua nhiều năm tháng để tự mình trở thành lãnh đạo, nhưng họ đã lãnh đạo mà không được lòng dân. Do bởi thiếu sự ủng hộ của người dân, họ đã phải dựa vào lực lượng ngoại quốc.

Trong tư cách là một lãnh tụ sinh viên, tôi cảm thấy mình phải theo đuổi nguyện vọng dân chủ, tự do và hòa bình của dân tộc Việt Nam. Thật ngây thơ khi tôi tin rằng Chính quyền Hà Nội ít ra cũng có đức tính của người Việt Nam, trong khi người Mỹ lại là kẻ ngoại bang xâm lược giống như người Pháp trước đó. Cũng như những người khác trong các phong trào đối lập ở miền Nam Việt Nam, tôi tin rằng đồng bào Cộng sản của chúng tôi ở miền Bắc sẽ dễ thỏa hiệp và dễ làm việc hơn những người Mỹ. Hơn nữa, tôi đã bị hớp hồn bởi những sự hy sinh cá nhân và sự tận tụy của các lãnh đạo Cộng sản đã chứng tỏ. Tôn Đức Thắng, cựu Chủ tịch Bắc Việt, chẳng hạn, đã bị tù đày suốt 17 năm trong nhà tù Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn bởi chương trình chính trị của MTGPDT áp dụng, trong đó bao gồm chính sách hòa giải dân tộc mà không có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Sau hết, tôi đã bị ảnh hưởng bởi các phong trào cấp tiến khắp thế giới và các nhà trí thức uy tín Tây phương. Ấn tượng của tôi là trong suốt thập niên 1960 và đầu thập niên 70, những lãnh tụ của các phong trào hòa bình Mỹ đã cùng chia sẻ niềm tin của tôi.

Những niềm tin này đã trải qua suốt thời kỳ ký kết Hiệp định Ba-lê 1973 và sự sụp đổ tiếp theo của Chính phủ miền Nam Việt Nam hai năm sau đó. Vào khi giải phóng sắp xong, tôi là người đã khuyên bảo bạn bè và thân quyến đừng di tản. “Tại sao các người lại muốn ra đi?” tôi hỏi. “Tại sao các người lại sợ Cộng sản?” Tôi chấp nhận viễn cảnh phải chịu đựng gian khó để tái thiết nước nhà và tôi quyết định ở lại Việt Nam và tiếp tục làm việc trong vai trò chủ tịch chi nhánh ở một ngân hàng Sài-gòn, nơi tôi đã làm việc hơn bốn năm trời, viết báo cáo mật về tình hình kinh tế ở Nam Việt Nam cho MTGPDT. (Sau khi rời đại học, tôi đã không bị Chính quyền Nam Việt Nam bắt quân dịch vì tôi là con một trong gia đình. Và tôi cũng không gia nhập lực lượng Việt cộng vì MTGPDT cảm thấy tôi có thể phục vụ hữu ích hơn trong vai trò cung cấp báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Vài ngày sau khi Sài-gòn sụp đổ, Chính phủ Cách mạng Lâm thời, được thành lập bởi MTGPDT, yêu cầu tôi tham gia ủy ban tài chánh, một nhóm trí thức mà công việc là cố vấn cho Chính phủ về các vấn đề chính sách kinh tế. Tôi tự nguyện chấp hành, cắt giảm 90% lương. Phân công đầu tiên của tôi là giúp thảo ra kết hoạch tịch thu tất cả tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi bị sốc và đề nghị rằng chúng tôi chỉ nên tước đoạt những tài sản của những ai hợp tác với chế độ cũ và những ai đã lợi dụng chiến tranh mà trở nên giàu có, và rằng chúng tôi phân phát theo cách nào đó cho người nghèo và những nạn nhân chiến tranh, Cộng sản cũng như phi Cộng sản. Dĩ nhiên đề nghị của tôi bị từ chối. Tôi đã khá ngây thơ khi nghĩ rằng các cán bộ địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu sai ý tốt của lãnh đạo Đảng Cộng sản. Tôi đã đấu tranh nhiều với họ, tin vào lời tuyên bố trước đó của Chính quyền Hà Nội, như tôi đã từng tin, rằng là “hoàn cảnh ở miền Nam rất là đặc biệt và khác với miền Bắc Việt Nam”. Vài tháng trước lúc giải phóng Sài-gòn, ông Lê Duẫn, Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản, đã nói rằng: “Miền Nam cần có đường lối riêng của nó”.

Cuối cùng, tôi đã không thể chấp hành mệnh lệnh giúp xếp đặt việc tịch thu tất cả tài sản tư nhân, một kế hoạch mà sau đó đã được thực hiện. Một ý đồ như thế không có gì liên quan đến việc hoàn thành nguyện vọng của người miền Nam Việt Nam, và nó đi ngược lại lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng trong chế độ Cộng sản, không một ai từ chức. Ngụ ý của sự không phù hợp thì không thể chấp nhận được đối với người Cộng sản. Khi tôi nộp đơn từ chức, chủ tịch ủy ban tài chánh đã cảnh cáo tôi rằng hành động của tôi “sẽ chỉ là sự tuyên truyền kích động người dân; ở đây chúng ta không bao giờ được làm theo cách đó”. Vài ngày sau đó, tôi bị bắt trong lúc đang dự một buổi hòa nhạc ở Nhà hát lớn (trước kia là Tòa Quốc hội, nơi mà tôi và các bạn sinh viên đã chiếm giữ nhiều lần dưới chế độ Thiệu). Không có lời buộc tội nào, cũng không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài-gòn sụp đổ, nhiều trí thức cấp tiến và cựu lãnh tụ các phong trào phản chiến tin rằng chế độ Việt Nam mới sẽ mang lại dân chủ và tự do cho đất nước từ sự đô hộ của ngoại bang. Họ cũng tin rằng chế độ mới sẽ theo đuổi quyền lợi tốt nhất của nhân dân, tôn trọng lời hứa thực hiện chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc mà không sợ có sự trả thù. Chẳng những không tôn trọng lời hứa của mình, các lãnh đạo Việt Nam còn bắt giữ hàng trăm ngàn người – không chỉ những người hợp tác với chế độ Thiệu mà còn cả những người không hề hợp tác, kể cả những nhà lãnh đạo tôn giáo và cựu thành viên MTGPDT.

Việt Nam ngày nay là đất nước không có bất cứ pháp luật nào khác hơn là những chỉ thị độc đoán của những người cầm quyền. Không hề có dân quyền. Những người bị nhốt tù không có lời buộc tội và xét xử. Một khi ở trong tù, tù nhân được giáo dục rằng hành vi, thái độ và “thiện chí”của họ là yếu tố chính để quyết định khi nào họ được tha – bất kể họ gây ra tội gì đi chăng nữa. Kết quả là, người tù thường tuân lệnh người gác tù một cách mù quáng, với hy vọng sớm được tha. Trên thực tế, họ không bao giờ biết khi nào mình được tha – hoặc khi nào bản án của mình có thể bị tăng lên. Hiện nay ở Việt Nam có bao nhiêu tù nhân chính trị? Và bao nhiêu trong số đó đã chết trong tù suốt thời gian sáu năm đầu Cộng sản cầm quyền? Chẳng ai có thể biết con số chính xác. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói rằng có từ 150.000 đến 200.000 tù nhân; người Việt tị nạn ước tính khoảng một triệu. Nhà trí thức Hoàng Hữu Quỳnh, tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, người đang làm hiệu trưởng một trường kỹ thuật ở TP Hồ Chí Minh (Sài-gòn trước kia), mới gần đây đào thoát được sang Pháp trong chuyến đi được Chính phủ tài trợ sang các nước châu Âu. Ông ta đã nói với báo giới Pháp: “Có ít nhất 700.000 tù nhân hiện nay ở Việt Nam”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên của Quốc hội tái thống nhất, được bầu vào năm 1976, người đã vượt thoát bằng thuyền năm 1978, nói rằng bản thân ông ấy được biết “khoảng 300 vụ xử tử” riêng trong tỉnh Phú Yên của mình. Năm 1977, các quan chức ở Hà Nội khẳng định rằng chỉ có 50.000 người đã bị bắt, những người gây ra mối đe dọa đến nền an ninh quốc gia. Thế nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói trong tờ tạp chí Pháp Paris Match, ấn bản ngày 22/09/1978 rằng: “Trong hơn ba năm, tôi đã thả hơn một triệu tù nhân từ các trại giam”. Người ta tự hỏi, làm thế nào có thể thả hơn một triệu sau khi bắt nhốt chỉ có 50.000.

Khi tôi bị bắt, tôi đã bị tống vào xà lim 1m x 2m với tay trái bị xích vào chân phải và tay phải vào chân trái. Thức ăn của tôi là cơm trộn cát. Khi tôi than phiền về cát, người coi ngục giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở tội ác của tù nhân. Tôi phát hiện ra rằng chế nước vào chén cơm sẽ tách cát ra khỏi cơm và lắng xuống đáy chén. Nhưng số lượng nước chỉ có một lít một ngày để uống và tắm rửa, và tôi phải xài kỹ.

Sau hai tháng biệt giam, tôi được chuyển sang nhà giam tập thể, một căn phòng rộng 5m và dài 8m, nơi đây khác hẳn với bất cứ nơi nào khác, nhồi nhét từ 40 tới 100 tù nhân chung với nhau. Ở trong này, chúng tôi phải thay phiên nằm ngủ, và hầu hết những tù nhân trẻ, khỏe hơn ngồi mà ngủ. Trong cái nóng oi bức, chúng tôi cũng phải thay phiên nhau chớp lấy vài hơi thở không khí trong lành ở trước chỗ hở nhỏ hẹp làm cửa sổ duy nhất của nhà giam. Mỗi ngày tôi đều mục kích bạn bè chết dưới chân tôi.

Vào tháng Ba năm 1976, khi một nhóm phóng viên Tây phương viếng thăm trại tù của tôi, các cán bộ Cộng sản chuyển hết tất cả các tù nhân ra và thay vào đó là các cán binh Bắc Việt. Ở đằng trước trại tù, người ta không thấy dây thép gai, không tháp canh, chỉ có vài viên công an và một tấm bảng lớn treo trên lối vào đề khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh: “Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Và Tự Do” mà thôi. Chỉ những ai bị nhốt bên trong và những ai giám sát họ mới biết nơi ẩn giấu phía sau tấm bảng đó là loại gì. Và mỗi tù nhân đều biết rằng nếu bị nghi ngờ có kế hoạch đào thoát, bạn tù và người thân của anh ta ở nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính bản thân anh ta.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số chính xác tù nhân bị chết, nhưng chúng ta thực sự biết về những cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng mà trong quá khứ chưa hề hợp tác với Tổng thống Thiệu hoặc người Mỹ: ví dụ như Hòa thượng Thích Thiện Minh, chiến lược gia của các phong trào Phật giáo hòa bình ở Sài-gòn, một nhà hoạt động phản chiến đã bị kết án 10 năm tù bởi chế độ Thiệu, rồi được thả sau một cuộc phản đối rầm rộ từ những người Việt Nam và những người phản chiến đối kháng khắp thế giới. Hòa thượng Thiện Minh đã chết ở trại tù Hàm Tân sau sáu tháng bị giam cầm năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập trong Quốc hội Sài-gòn dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết trong tay Cộng sản vào năm 1976, mặc dầu cuối tháng Tư, 1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với phóng viên Pháp rằng ông Tuyên vẫn còn sống và khỏe mạnh trong một trại cải tạo. Một trong những mất mát lớn nhất là sự mất mát của triết gia danh tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Ông Tường, một trong những bạn học của Jean-Paul Sartre ở Ba-lê vào thập niên 1930, có lẽ là trí thức hàng đầu ở Nam Việt Nam. Ông qua đời trong trại tù Hàm Tân ngày 26, tháng Sáu, 1980. Những người này đã bị bắt giam, cùng với nhiều người khác trong số những người miền Nam ưu tú nhất và được tôn trọng nhất, là nhằm để ngăn ngừa trước bất cứ sự chống đối có thể có chống lại Cộng sản.

Những người Mỹ ủng hộ chế độ Hà Nội đã lờ đi hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã có vô số thảm kịch khác đã từng xảy đến với Việt Nam kể từ năm 1975. Rất có thể rằng họ sẽ tiếp tục giữ im lặng hòng để tránh né sự tan vỡ ảo tường sâu lắng mà việc chấp nhận sự thật về Việt Nam có ý nghĩa đối với họ. Tuy vậy, nếu sự tự do và dân chủ xứng đáng đấu tranh ở Philippines, Chi-lê, Nam Hàn hoặc ở Nam Phi, chúng lại không đáng để bảo vệ tại những nước Cộng sản như Việt Nam. Mọi người đều nhớ đến vô số những cuộc biểu tình phản đối Hoa Kỳ dính líu vào Việt Nam và tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số khác trong số những người lúc ấy nhiệt tình đeo đuổi những nguyên tác dân chủ và nhân quyền thì nay đã thờ ơ lạ kỳ đối với cùng những nguyên tắc đang bị giày xéo tại nước Việt Nam Cộng sản. Chẳng hạn như, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, đã từ chối ký tên vào một lá thư ngỏ tháng Năm, 1979 gởi tới nước Cộng hòa Xã hội Việt Nam mà trong đó nhiều nhà hoạt động phản chiến trước kia gồm cả Hoan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chính quyền Hà Nội. Kunstler nói rằng, “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai những chính quyền xã hội chủ nghĩa, cho dù đó là những sự vi phạm nhân quyền”, và rằng, “Toàn bộ chiến dịch Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Lời tuyến bố này đã nhắc nhở tôi về lý luận được chế độ Thiệu sử dụng để đàn áp đối lập: “Những phong trào hòa bình và những nhà hoạt động đối lập tất cả đều là tay sai của Cộng sản”.

Có những ảo tưởng khác về chế độ hiện tại ở Việt Nam mà người ta nên làm sáng tỏ. Nhiều người tin rằng Hồ Chí Minh chủ yếu là nhà chủ nghĩa dân tộc và rằng Cộng sản Việt Nam đã và đang độc lập với Liên Xô. Tôi tin y như vậy trước khi họ chiếm lấy miền Nam Việt Nam. Nhưng những chân dung của các lãnh tụ Xô Viết giờ đây tô điểm cho các công trình công cộng, trường học và các cơ quan hành chánh trên khắp “nước Việt Nam độc lập”. Trái lại, người ta chưa bao giờ nhìn thấy tranh ảnh của những lãnh đạo Mỹ nào thậm chí trong suốt thời kỳ gọi là chế độ bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc mà Chính quyền hiện tại cảm thấy đối với nhà đỡ đầu Xô Viết của nó được gợi lên bởi một bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu danh tiếng Việt Nam, một ủy viên Bộ Chính trị và chủ tịch Ủy ban Văn hóa Đảng Cộng sản. Ở đây chúng ta có cơ hội để nghe lời khóc than của một vị cấp cao Việt Nam vào dịp Stalin mất:

“Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,

Yêu biết mấy, nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin

Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,

Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười.

 

( Bài thơ Đời đời nhớ ông của Tố Hữu)

Có vẻ như khó có thể tin nổi một bài thơ thư thế lại được viết ở đất nước Việt Nam, đất nước được biết đến về sức mạnh của những truyền thống gia đình và cảm nhận của nó về lòng hiếu nghĩa. Tuy nhiên, bài thơ này đã chiếm lĩnh vị trí nổi bật trong tuyển tập chủ yếu của thơ ca đương đại Việt Nam được xuất bản ở Hà Nội gần đây.

Hơn thế nữa, Lê Duẫn, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản, phát biểu trong bản báo cáo chính trị của mình trước Quốc hội tái thống nhất vào năm 1976: “Cuộc cách mạng Việt Nam là để hoàn tất sứ mạng của nhà quốc tế và nghĩa vụ quốc tế”, và để làm được vậy, theo lời của cương lĩnh đảng, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Xô Viết”. Sự vinh quang của xã hội Xô Viết, quả thật, là mục tiêu chính yếu của sách lược kiểm soát của Việt Nam Cộng sản.

Ngay sau khi Sài-gòn sụp đổ, Chính quyền đã đóng cửa tất cả các hiệu sách và rạp hát. Mọi sách báo được xuất bản dưới chế độ cũ đều bị tịch thu hoặc thiêu hủy. Văn chương văn hóa cũng không được miễn, kể cả các bản dịch của Jean-Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Tác phẩm “Cuốn theo chiều gió” của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn học đồi trụy. Chế độ mới đã thay thế những sách báo như thế bằng văn chương được định ra nhằm truyền thụ cho trẻ em và người lớn tư tưởng “Liên bang Xô Viết là thiên đường của thế giới chủ nghĩa xã hội”.

Một lý luận khác thỉnh thoảng được các nhà biện luận phương Tây đưa ra liên quan tới tự do tín ngưỡng ở Việt Nam. Một điều khoản trong Hiến pháp mới của Việt Nam, mới được đưa vào trong năm nay (1986), nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẫn đã tuyên bố nhiều lần rằng: “Chế độ hiện tại của chúng ta dân chủ gấp hàng triệu lần hơn bất kỳ chế độ nào khác trên thế giới này”. Thực tế, tuy vậy, cho thấy vụ dính líu tới sự báng bổ một ngôi chùa, mà ở đó một phụ nữ khỏa thân, theo lệnh của Chính phủ, bước vào chùa trong lúc có lễ tụng kinh. Khi Hòa thượng Thích Mẫn Giác, một vị lãnh đạo ưu tú Phật giáo, lên tiếng phản đối, Chính phủ lợi dụng cơ hội này để làm mất uy tín Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, đặc biệt là của tự do không tín ngưỡng. Hòa thượng Thích Mẫn Giác, người đã làm liên lạc giữa Phật giáo và Chính phủ Cộng sản, đã trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền năm 1977 và hiện đang sinh sống ở Los Angeles. Tất cả những người từng ủng hộ MTGPDT trong công cuộc đấu tranh nên nhận thức rằng họ đã bị phản bội và lừa dối ra sao. Khi Harrison Salisbury của tờ The New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng Mười hai năm 1966, các vị lãnh đạo đã nói với ông ta rằng: “Sự chỉ đạo đấu tranh ở miền Nam là do miền Nam chứ không phải do miền Bắc”. Phạm Văn Đồng, Thủ tướng, nói với Salisbury: “Không ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội lỗi này trong đầu” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Thế mà, trong một bài diễn văn kỷ niệm chiến thắng vào ngày 19 tháng Năm, năm 1975, Lê Duẫn nói: “Đảng ta là lãnh đạo duy nhất và độc nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ công cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam từ ngày đầu tiên trong cuộc cách mạng”. Trong báo cáo chính trị của mình trước Quốc hội tái thống nhất ở Hà Nội vào ngày 26 tháng Sáu, năm 1976, Lê Duẫn nói: “Nhiệm vụ chiến lược của cuôc cách mạng trong nước chúng ta trong giai đoạn mới này là đạt được sự thống nhất đất nước và đưa toàn đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa Cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời được thành lập bởi MTGPDT đã bị xóa bỏ, và hai miền Nam Bắc được thống nhất dưới triều đại Cộng sản. Ngày nay, trong số 17 thành viên của Bộ Chính trị và 134 thành viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam không có lấy một người thuộc MTGPDT (có vài thành viên là đại diện Đảng Cộng sản Bắc Việt với MTGPDT). Ngay cả Nguyễn Hửu Thọ, cựu chủ tịch MTGPDT, chỉ giữ chức vụ Chủ tịch Nước, một vị trí nghi thức liên quan đến việc tiếp đón quan khách và tham dự vào những buổi lễ lạc. Nhưng vị trí của ông ấy sẽ bị xóa bỏ theo Hiến pháp mới.

Hãy nghe Trương Như Tảng, 57 tuổi, một người sáng lập MTGPDT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, gần đây là một người nữa trong số những thuyền nhân. Ông Tảng vượt biên vào tháng Mười một năm 1979 và hiện đang sinh sống ở Ba-lê. Ông ấy đã cho các phóng viên biết về kinh nghiệm đã trải qua của mình trong một cuộc họp báo ở Ba-lê vào tháng Sáu năm 1980. Mười hai năm trước, ông ấy nói, khi ông ấy bị chế độ Thiệu cầm tù vì những hoạt động Cộng sản của mình, cha của ông đã đến thăm. Ông ấy đã hỏi ông Tảng: “Tại sao con từ bỏ mọi thứ – công việc tốt, gia đình giàu có – để gia nhập Cộng sản? Con không biết là Cộng sản sẽ phản bội và bức hại con, và khi cuối cùng con hiểu ra, tỉnh ngộ sẽ là quá trễ rồi hay không?” Ông Tảng, một nhà trí thức, trả lời cha của ông: “Tốt hơn là cha hãy giữ im lặng và chấp nhận sự hy sinh của một trong những đứa con trai của cha vì dân chủ và độc lập của đất nước mình…”

Sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, ông Tảng đã được trao đổi bằng ba vị đại tá Mỹ đã bị Việt cộng bắt làm tù binh; sau đó ông biến mất vào rừng với MTGPDT. Ông ấy đã viếng thăm nhiều quốc gia Cộng sản và các quốc gia thế giới thứ ba đại diện cho MTGPDT trong thời gian chiến tranh. Ông Tảng nói trong cuộc họp báo của mình: “Tôi biết rõ rằng MTGPDT là một mặt trận liên minh dân tộc do Cộng sản thống lĩnh và tôi khá ngây thơ tin rằng Hồ Chí Minh và đảng của ông ta sẽ đặt lợi ích quốc gia trên ý thức hệ và sẽ đặt quyền lợi của nhân dân Việt Nam trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân và tôi đã lầm”.

Trương Như Tảng đã kể về hiểu biết riêng của mình về phương sách hoạt động cai trị của Cộng sản: “Cộng sản là chuyên gia trong nghệ thuật chiêu dụ và sẽ làm mọi thứ để dụ dỗ bạn về phía họ, chừng nào mà họ chưa nắm được Chính quyền. Nhưng một khi họ đã nắm được quyền lực, họ bất ngờ trở nên hà khắc, vô ơn, hoài nghi và tàn bạo”. Ông Tảng đã tóm tắt tình hình hiện tại ở Việt Nam: “Gia đình bị chia cắt, xã hội bị phân tán, thậm chí tới đảng cũng bị chia rẽ”.

Giờ đây nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi không cảm thấy gì ngoài sự đau buồn cho nỗi ngây thơ của chính mình đã tin rằng Cộng sản là những nhà cách mạng đáng ủng hộ. Thực chất, họ đã phản bội dân tộc Việt Nam và lừa dối những nhà cấp tiến trên khắp thế giới. Trách nhiệm cho những thảm kịch đã nhận chìm đồng bào mình là của tôi. Và giờ đây tôi chỉ có thể là chứng nhân cho sự thật này hầu để tất cả những người ủng hộ Việt cộng trước kia có thể cùng tôi chia sẻ trách nhiệm của họ.

Trong lúc tôi bị giam trong ngục, Mai Chí Thọ, một ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản, đã nói chuyện với một nhóm tù nhân được chọn lọc. Ông ta bảo chúng tôi rằng: “Hồ Chí Minh có thể là một ác nhân; Nixon có thể là một vĩ nhân. Nhân dân Mỹ có thể có chính nghĩa; chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã chứng tỏ cho dân tộc thấy rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là kẻ giết người và người Mỹ là kẻ xâm lăng”. Ông ta kết luận rằng “yếu tố chính là làm cách nào để điều khiển dân tộc và tư tưởng của họ. Chỉ có Chủ nghĩa Mắc-Lê mới có thể làm được điều đó. Không ai trong các anh từng thấy sự chống đối chế độ Cộng sản, vì thế đừng suy nghĩ về chuyện đó. Hãy quyên nó đi. Giữa các anh – những người trí thức ưu tú – và tôi, tôi nói cho các anh biết sự thật”.

Và ông ta thực sự đã nói sự thật cho chúng tôi. Kể từ năm 1978, Cộng sản Việt Nam đã chiếm Lào, xâm lăng Cam Bốt và tấn công Thái Lan, trong khi Liên bang Xô viết xâm chiếm Afghanistan. Trong mỗi cuộc xâm lấn đó, Cộng sản đã tự họa chân dung chính mình, khó mà tin được, như là những người giải phóng, những vị cứu tinh và những bức tường thành chống ngoại xâm. Và mỗi lần, ý kiến thế giới vẫn tương đối tĩnh lặng.

Nhưng ở Việt Nam, người dân thường hay nhận xét: “Đừng tin những gì Cộng sản nói, hãy nhìn những gì họ làm”. Một người Cộng sản miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Tăng, người đã bị Pháp giam cầm 15 năm, 8 năm bởi Diệm, 6 năm bởi Thiệu, và tới nay vẫn còn bị tù, lần này là trong nhà tù Cộng sản, đã nói với tôi: “Để hiểu được Cộng sản, trước hết người ta phải sống dưới chế độ Cộng sản đã”. Một buổi chiều mưa gió trong nhà tù ở đường Lê Văn Duyệt, Sài-gòn, ông ấy đã kể với tôi: “Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả, không phải là được gặp gia đình mình. Ước mơ của tôi là muốn được trở lại trong nhà tù của Pháp cách đây 30 năm”. Đó là mong muốn của một ông già 60 tuổi người đã dùng toàn bộ thời thanh xuân của mình vào ra tù để tranh đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Vào lúc này đây, có lẽ ông ấy đã chết trong xà lim của mình hoặc có thể đã bị xử tử bởi nhà cầm quyền mới.

Nhân dân Việt Nam mong ước đạt được cuộc cách mạng thực sự; họ không muốn chủ nghĩa Cộng sản. Sự đo lường đa số lòng căm ghét đối với Cộng sản là hằng ngàn người Việt đã vất bỏ sự ràng buộc lịch sử của mình đối với đất nước. Dưới thời đô hộ của thực dân Pháp, qua suốt nhiều năm dài chiến tranh, thậm chí trong thời gian thảm trạng nạn đói năm 1945 với hai triệu người chết vì đói, người Việt Nam cũng không đành lòng rời bỏ quê hương – mảnh đất của mồ mả cha ông. Những cuộc di tản ồ ạt gần đây là kết quả trực tiếp của sự khủng bố của chế độ hiện nay. Hãy lắng nghe một người tị nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MTGPDT và là đại biểu Quốc hội thống nhất mới được bầu năm 1976: “Chế độ hiện thời là chế độ vô nhân và áp bức nhất (Việt Nam) chưa từng có”. Ông Hoan đã vượt biên bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ vị trí của mình trong Quốc hội Cộng sản. Ông ấy tuyên bố: “Quốc hội là thứ bù nhìn, các đại biểu chỉ biết gật là ra làm sao chứ chẳng biết nói không là như thế nào”.

Trong số những thuyền nhân sống sót, kể cả những người bị cướp biển hãm hiếp và những người đã chịu khổ sở trong các trại tị nạn, không ai hối tiếc về sự đào thoát khỏi chế độ hiện tại. Tôi vững tin rằng sự thật về Việt Nam cuối cũng sẽ lộ ra chân tướng. Nó đã có sẵn rồi đối với những người mong muốn biết. Như Solzhenitsyn đã nói: “Sức nặng sự thật nặng như trái đất”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

 Bản tiếng Anh

A Lament for Vietnam

By DOAN VAN TOAI

( FROM THE NEW YORK TIMES MAGAZINE )

When the Communists took overNorth Vietnamin 1954, a million refugees fled to the South. I personally heard stories of their incredible suffering. But, along with other South Vietnamese, I refused to believe them. A generation later, I could not believe Solzhenitsyn’s book “The Gulag Archipelago,” either. I dismissed it as anti-Communist propaganda. But by 1979, I had published my own book, “The Vietnamese Gulag.” Can those who have suffered the horror of Communism ever convince those who have not experienced it? From 1945, when I was born in thevillageofCaivonin Vinh Long province, 100 miles south of Saigon, until I leftVietnamin May 1978, I never enjoyed peace. My family’s house was burned three times in the war against the French. To escape the fighting, my parents moved from one village to another throughout my youth. Like the majority of Vietnamese patriots, they joined the resistance forces fighting the French. As I grew up, I myself saw how the peasants were oppressed by the local officials of the successiveSaigonregimes, how they were victimized by the French bombardments. I learned the history of my country’s thousand-year struggle against Chinese occupation and its century-long effort against Western domination. With this background, my compatriots and I grew up with a hatred of foreign intervention.

When the students atSaigonUniversityelected me vice president of the Saigon Student Union in 1969 and 1970, I participated in the different peace efforts, leading student demonstrations against the Thieu regime and against American involvement. I published a magazine called Self-Determination, and traveled in January 1971 toCaliforniato give antiwar lectures at Berkeley and Stanford. For my activities, I was arrested and jailed many times by the Thieu Government.

During that period, I believed that I was fulfilling my commitment to peace and the independence of my country. I had faith, too, in the program of the National Liberation Front (N.L.F.), which led the revolutionary resistance inSouth Vietnam. I hated Saigon’s rulers, men like Gen. Nguyen Van Thieu, Gen. Nguyen Cao Ky, Gen. Dang Van Quang — former soldiers of the French colonial army. These were the men whom the French had recruited in the 1940’s to help destroy the Vietnamese resistance. They had risen over the years to become leaders themselves, but they commanded no respect from the people. Because of their lack of popular support, they were predisposed to rely on foreign forces.

As a student leader, I felt I had to pursue the aspiration of the Vietnamese people for democracy, freedom and peace. Naively, I believed that theHanoiregime at least had the virtue of being Vietnamese, while the Americans were foreign invaders like the French before them. Like others in the South Vietnamese opposition movements, I believed that our Communist compatriots in the North would be more amenable to compromise and easier to work with than the Americans. Moreover, I was hypnotized by the personal sacrifices and devotion the Communist leaders had demonstrated. Ton Duc Thang, former President of North Vietnam, for example, had been imprisoned for 17 years in a French jail. I was hypnotized also by the political programs advocated by the N.L.F., which included a domestic policy of national reconciliation, without risk of reprisal, and a foreign policy of nonalignment. Finally, I was influenced by progressive movements throughout the world and by the most prestigious intellectuals in the West. My impression was that during the 1960’s and early 70’s the leaders of the American peace movement shared my convictions.

These convictions endured through the signing of the 1973Parispeace accords and the subsequent collapse of the South Vietnamese Government two years later. When liberation was imminent, I was the one who told friends and relatives not to flee. “Why do you want to leave?” I asked. “Why are you afraid of the Communists?” I accepted the prospect of enduring hardships to rebuild my country and I decided to stay in Vietnam and continue working as a branch manager at a Saigon bank, where I had been for more than four years, writing secret reports about the economic situation in South Vietnam for the N.L.F. (After leaving the university, I had not been drafted by the South Vietnamese Government because I was the only son in my family. And I had not joined the Vietcong because the N.L.F. felt I could serve a more useful role providing financial reports from the bank.)

Several days afterSaigonfell, the Provisional Revolutionary Government, formed by the N.L.F., asked me to join the finance committee, a group of intellectuals whose job it was to advise the Government on matters of economic policy. I complied willingly, taking a pay cut of 90 percent. My first assignment was to help draw up a plan for confiscating all the private property inSouth Vietnam. Shocked, I proposed that we should expropriate only the property of those who had cooperated with the former regime and those who had used the war to become rich, and that we distribute it in some fashion to the poor and to the victims of the war, Communist and non-Communist alike. My proposals, of course, were rejected. I was naive enough to think that the local cadres were mistaken, that they misunderstood the good intentions of the Communist Party leaders. I had many fights with them, believing as I didHanoi’s previous statement that “the situation in the South is very special and different from that ofNorth Vietnam.” A few months before the liberation ofSaigon, Le Duan, the First Secretary of the Communist Party, had said, “The South needs its own policy.”

In the end, I could not obey the order to help arrange the confiscation of all private property, a plan that was subsequently carried out. Such a scheme had nothing to do with fulfilling the aspirations of the South Vietnamese, and it went against my conscience. I decided to resign. But no one resigns in a Communist regime. The implication of nonconformity is intolerable to Communists. When I submitted my resignation, the chief of the finance committee warned me that my action “would only serve as propaganda to excite the people; here we never do it that way.” Several days later, while I was attending a concert at the great National Theater (formerly the National Assembly Hall, which my fellow students and I had occupied so many times under the Thieu regime), I was arrested. No charges were made, no reasons were given. After the fall ofSaigon, many progressive intellectuals and former antiwar-movement leaders believed that the new Vietnamese regime would bring internal democracy and freedom from foreign domination. They believed that the new regime would pursue the best interests of the people, honoring its promise to carry out a policy of national reconciliation without fear of reprisal. Far from adhering to their promises, the Vietnamese rulers have arrested hundreds of thousands of individuals —  not only those who had cooperated with the Thieu regime but even those who had not, including religious leaders and former members of the N.L.F.

Vietnamtoday is a country without any law other than the arbitrary directives of those in power. There is no civil code. Individuals are imprisoned without charges and without trial. Once in jail, prisoners are taught that their behavior, attitude and “good will” are the key factors in determining when they may be released -whatever crimes they may have committed. As a consequence, prisoners often obey the guards blindly, hoping for an early release. In fact, they never know when they may be released —  or when their sentences may be extended. How many political prisoners are there inVietnamtoday? And how many of them have died in prisons during the first six years of Communist rule? Nobody can know the exact numbers. The United States Department of State has said there are from 150,000 to 200,000 prisoners; Vietnamese refugees estimate about one million. Hoang Huu Quynh, an intellectual, a graduate of Moscow University, who served as a director of a technical school in Ho Chi Minh City (formerly Saigon), recently defected to France during his Government sponsored tour of European countries. He told the French press: “There are at least 700,000 prisoners inVietnamtoday.” Another witness, Nguyen Cong Hoan, a former member of the reunified National Assembly, which was elected in 1976, who escaped by boat in 1978, said that he himself knew “about 300 cases of executions” in his own province of Phu Yen. In 1977, officials inHanoiinsisted that only 50,000 people, who posed the greatest threat to national security, had been arrested. But Prime Minister Pham Van Dong said, in the French magazine Paris Match, on Sept. 22, 1978, “In over three years, I released more than one million prisoners from the camps.” One wonders how it is possible to release more than a million after having arrested only 50,000.

When I was arrested, I was thrown into a three-foot-by-six-foot cell with my left hand chained to my right foot and my right hand chained to my left foot. My food was rice mixed with sand. When I complained about the sand, the guards explained that sand is added to the rice to remind prisoners of their crimes. I discovered that pouring water in the rice bowl would make the sand separate from the rice and sink to the bottom. But the water ration was only one liter a day for drinking and bathing, and I had to husband it carefully.

After two months in solitary confinement, I was transferred to a collective cell, a room 15 feet wide and 25 feet long, where at different times anywhere from 40 to 100 prisoners were crushed together. Here we had to take turns lying down to sleep, and most of the younger, stronger prisoners slept sitting up. In the sweltering heat, we also took turns snatching a few breaths of fresh air in front of the narrow opening that was the cell’s only window. Every day I watched my friends die at my feet.

In March 1976, when a group of Western reporters visited my prison, the Communist officials moved out all the prisoners and substituted North Vietnamese soldiers. In front of the prisons, one sees no barbed wire, no watchtowers, only a few policemen and a large sign above the entrance that proclaims Ho Chi Minh’s best-known slogan: “Nothing Is More Precious Than Liberty andIndependence.” Only those detained inside and those who guard them know what kind of place is hidden behind that sign. And every prisoner knows that if he is suspected of planning to escape, his fellow inmates and relatives at home will be punished rather than he himself.

We will never know precisely the number of dead prisoners, but we do know about the deaths of many well-known prisoners who, in the past, never cooperated with President Thieu or the Americans: for example, Thich Thien Minh, the strategist of all the Buddhist peace movements in Saigon, an antiwar activist who was sentenced to 10 years in jail by the Thieu regime, then released after an outpouring of protest from Vietnamese and antiwar protesters around the world. Thien Minh died in Ham Tan prison after six months of detention in 1979. Another silent death was that of the lawyer Tran Van Tuyen, a leader of the opposition bloc in the Saigon Assembly under President Thieu. This well-known activist died in Communist hands in 1976, although as late as April 1977, Prime Minister Pham Van Dong was telling French reporters that Tuyen was alive and well in a re-education camp. One of the greatest losses has been that of the famous Vietnamese philosopher Ho Huu Tuong. Tuong, a classmate of Jean-Paul Sartre’s inParisin the 1930’s, was perhaps the leading intellectual inSouth Vietnam. He died in Ham Tan prison on June 26, 1980. These men were arrested, along with many others among the most prominent and respected South Vietnamese, in order to pre-empt any possible opposition to the Communists.

Some American supporters ofHanoihave ignored or rationalized these deaths, as they have the countless other tragedies that have befallenVietnamsince 1975. It is more than likely that they will continue to maintain their silence in order to avoid the profound disillusionment that accepting the truth aboutVietnammeans for them. Yet if liberty and democracy are worth struggling for in thePhilippines, inChile, inSouth Koreaor inSouth Africa, they are no less worth defending in Communist countries likeVietnam. Everyone remembers the numerous demonstrations protestingUnited Statesinvolvement inVietnamand the war crimes of the Thieu regime. But some of those people who were then so passionately committed to democratic principles and human rights have developed a strange indifference now that these same principles are under assault in Communist Vietnam. For example, one antiwar activist, William Kunstler, refused to sign a May 1979 open letter to the Socialist Republic of Vietnam in which many former antiwar activists, including Joan Baez, protestedHanoi’s violations of human rights. Kunstler said, “I don’t believe in criticizing socialist governments publicly, even if there are human-rights violations,” and, “The entire Baez campaign may be a C.I.A. plot.” This statement reminds me of the argument used by the Thieu regime to suppress opposition: “The peace movements and the opposition activists are all the Communists’ lackeys.”

There are other illusions about the current regime inVietnamabout which people should be disabused. Many people believed that Ho Chi Minh was primarily a nationalist and that the Vietnamese Communists were and are independent of theSoviet Union. I believed the same before they took overSouth Vietnam. But portraits of Soviet leaders now adorn public buildings, schools and administrative offices throughout “independentVietnam.” In contrast, one never saw pictures of American leaders even during the so-called puppet regime of President Thieu. The degree of subordination the present Government feels toward its Soviet patron is suggested by a famous poem by the well-known Vietnamese poet To Huu, a member of the Politburo and president of the Communist Party Committee of Culture. Here we have an opportunity to listen to a high-ranking Vietnamese weep on the occasion of Stalin’s death: Oh, Stalin! Oh, Stalin! The love I bear my father, my mother, my wife, myself It’s nothing beside the love I bear you, Oh, Stalin! Oh, Stalin! What remains of the earth and of the sky! Now that you are dead.

It may seem incredible that such a poem could have been written inVietnam, which is known for the strength of its family traditions and its feeling for filial piety. Yet this poem occupied a prominent place in a major anthology of contemporary Vietnamese poetry recently published inHanoi.

Moreover, Le Duan, First Secretary of the Communist Party, said in his political report to the reunified National Assembly in 1976: “The Vietnamese revolution is to fulfill the internationalist duty and the international obligation,” and to do so, in the words of the 1971 party platform, “under the leadership of the Soviet Union.” The glorification of Soviet life is, in fact, a major goal of Communist Vietnam’s censorship policy.

Immediately after the fall ofSaigon, the Government closed all bookshops and theaters. All books published under the former regimes were confiscated or burned. Cultural literature was not exempt, including translations of Jean-Paul Sartre, Albert Camus and Dale Carnegie. Margaret Mitchell’s “Gone With the Wind” was on the list of decadent literature as well. The new regime replaced such books with literature designed to indoctrinate children and adults with the idea that the “SovietUnionis a paradise of the socialist world.”

Another argument made at times by Western apologists has to do with freedom of religion inVietnam. One article in the new Constitution of Vietnam, adopted this year, declares that “the regime respects the liberty of the believers and also the liberty of the nonbelievers.” In regard to this article, Le Duan has repeatedly proclaimed: “Our present regime is a million times more democratic than any other in the world.” The reality, though, is suggested by an incident involving the desecration of a Buddhist pagoda, in which a nude woman, on orders from the Government, entered the pagoda during a worship service. When Thich Man Giac, a prominent Buddhist leader, protested, the Government used the opportunity to try to discredit the Buddhists as enemies of democracy -specifically, of the freedom to disbelieve. Thich Man Giac, who had served as liaison between the Buddhists and the Communist Government, escapedVietnamby boat in 1977 and is now living inLos Angeles. All of those who supported the N.L.F. in its struggle should be aware of how they were betrayed and deceived. When Harrison Salisbury of The New York Times visitedHanoiin December 1966, the leaders inHanoitold him: “The direction of the struggle in the South is by the South and not by the North.” Pham Van Dong, Prime Minister, said toSalisbury: “No one in the North had this stupid, criminal idea in mind” that the North wanted to annex the South.

Yet in a victory-day celebration speech made on May 19, 1975, Le Duan said, “Our party is the unique and single leader that organized, controlled and governed the entire struggle of the Vietnamese people from the first day of the revolution.” In his political report to the reunified National Assembly inHanoion June 26, 1976, Le Duan said: “The strategic task of the revolution in our country in the new stage is to achieve the reunification of our homeland and to take the whole country rapidly, vigorously and steadily to socialism, and Communism.”

In 1976, the Provisional Revolutionary Government formed by the N.L.F. was abolished, and South andNorth Vietnamwere reunified under Commu-nist rule. Today, among 17 members of the Politburo and 134 members of the Central Committee of the Vietnamese Communist Party, not a single one is from the N.L.F. (there are several members who had been North Vietnam Communist Party representatives with the N.L.F.). Even Nguyen Huu Tho, former chairman of the N.L.F., holds only the post of acting President of State, a ceremonial position that involves greeting visitors and participating in festivals. But his position will be abolished under the new Constitution.

Listen to Truong Nhu Tang, 57 years old, a founder of the N.L.F., former Justice Minister of the Provisional Revolutionary Government, more recently one of the boat people. Tang escaped in November 1979 and is now living inParis. He told reporters of his experience in a news conference inParisin June 1980. Twelve years earlier, he said, when he had been jailed by the Thieu regime for his Communist activities, his father came to visit. “Why,” he asked Tang, “have you abandoned everything — a good job, a rich family — to join the Communists? Don’t you know that the Communists will betray you and persecute you, and when you finally understand, it will be too late to wake up?” Tang, an intellectual, answered his father: “You would do better to keep quiet and accept the sacrifice of one of your sons for democracy and our country’s independence. …”

After the Tet offensive in 1968, Tang was exchanged for three American colonels who had been prisoners of war held by the Vietcong; then he vanished into the jungle with the N.L.F. He had visited many Communist and third-world countries on behalf of the N.L.F. during the war. Tang said in his news conference: “I was well aware that the N.L.F. was a Communist-dominated national united front and I was naive enough to believe that Ho Chi Minh and his party would place national interests above ideology and would place the interest of the Vietnamese people above the party’s. But the people and I were wrong.”

Truong Nhu Tang told of his own knowledge of the way Communist ruling circles operate: “The Communists are expert in the arts of seduction and will go to any length to woo you over to their side, as long as they don’t control the Government. But once they are in power they suddenly become harsh, ungrateful, cynical and brutal.” Tang summarized current conditions inVietnam: “The family is divided, society is divided, even the party is divided.”

Looking back now on the Vietnam war, I feel nothing but sorrow for my own naivete in believing that the Communists were revolutionaries worthy of support. In fact, they betrayed the Vietnamese people and deceived progressives throughout the world. The responsibility for the tragedies that have engulfed my compatriots is mine. And now I can only bear witness to this truth so that all former supporters of the Vietcong may share their responsibility with me.

While I was in jail, Mai Chi Tho, a member of the Central Committee of the Communist Party, addressed a selected group of political prisoners. He told us: “Ho Chi Minh may have been an evil man; Nixon may have been a great man. The Americans may have had the just cause; we may not have had the just cause. But we won and the Americans were defeated because we convinced the people that Ho Chi Minh is the great man, that Nixon is a murderer and the Americans are the invaders.” He concluded that “the key factor is how to control people and their opinions. Only Marxism-Leninism can do that. None of you ever see resistance to the Communist regime, so don’t think about it. Forget it. Between you —  the bright intellectuals — and me, I tell you the truth.”

And he did tell us the truth. Since 1978, the Vietnamese Communists have occupiedLaos, invadedCambodiaand attackedThailand, while the Soviet Union has invadedAfghanistan. In each of these depredations, the Communists have portrayed themselves, incredibly, as liberators, saviors and bulwarks against foreign aggression. And each time, world opinion has remained relatively quiescent.

But inVietnam, people often remark: “Don’t believe what the Communists say, look instead at what they have done.” One South Vietnamese Communist, Nguyen Van Tang, who was detained 15 years by the French, eight years by Diem, six years by Thieu, and who is still in jail today, this time in a Communist prison, told me: “In order to understand the Communists, one must first live under a Communist regime.” One rainy evening inSaigon’s Le Van Duyet prison, he told me: “My dream now is not to be released; it is not to see my family. My dream is that I could be back in a French prison 30 years ago.” This is the one wish of a 60-year-old man who has spent his entire adult life in and out of prison fighting for the freedom and the independence of his country. At this moment, he may already have died in his cell or have been executed by the new rulers.

The Vietnamese people wish to achieve the real revolution; they do not want Communism. The measure of popular hatred for the Communists is that thousands of Vietnamese have abandoned their historical attachment to the land. Under French colonial domination, throughout the long war years, even during the catastrophic famine of 1945 when two million starved to death, Vietnamese simply did not willingly leave their homeland —  the land of their ancestors’ graves. The recent outpouring of refugees is a direct result of the terror of the present regime. Listen to another refugee, Nguyen Cong Hoan, former N.L.F. agent and member of the new unified Assembly elected in 1976: “This current regime is the most inhuman and oppressive (Vietnam) has ever known.” Hoan escaped by boat in 1977, after abandoning his position in the Communist Assembly. “The Assembly,” he declared, “is a puppet, the members know only how to say yes, never how to say no.”

Among the boat people who survived, including those who were raped by pirates and those who suffered in the refugee camps, nobody regrets his escape from the present regime. I am confident that the truth aboutVietnamwill eventually emerge. It is already available to those who wish to know it. As Solzhenitsyn has said, “Truth weighs as heavy as the world.” AndVietnamis a lesson in truth.

DOAN VAN TOAI IS CURRENTLY WORKING ON A BOOK ABOUTVIETNAMCALLED “NEITHER PEACE NOR HONOR.”

  1. Không có bình luận
  1. 27.09.2011 lúc 10:17 chiều

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s